Thứ 2 - Thứ 607:00-17:00HOTLINE:1900 23.23.61

Y học thường thức / Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp

2.1.jpg

Anh N.V.H (33 tuổi, Hải Phòng) thường xuyên bị khó chịu do có cảm giác trào ngược dịch tiêu hóa lên vùng cổ về đêm, nuốt nghẹn tăng dần, nôn sau ăn, gầy sút cân. Một năm nay, người bệnh đã đi khám điều trị nhiều nơi được chẩn đoán trào ngược dạ dày thực quản nhưng dùng thuốc không đỡ. Biểu hiện bệnh tăng dần, hai ngày trước khi vào viện, người bệnh đau tức thượng vị, ợ dịch lên vùng miệng họng, nuốt nghẹn cả thức ăn đặc và lỏng.

(Hình ảnh: Trước khi can thiệp dịch ứ đọng ở thực quản; Tâm vị co thắt)

Người bệnh đến khám tại phòng khám chuyên khoa Nội tiêu hóa gan mật, Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp, được TS. BS. Đặng Chiều Dương – Trưởng khoa Nội tiêu hóa chẩn đoán co thắt tâm vị, anh H. đã được nhập viện điều trị. Người bệnh được chỉ định nội soi can thiệp nong thực quản – tâm vị bằng bóng hơi. Đây là phương pháp dùng một bóng hơi chuyên dụng có đồng hồ đo áp lực, bóng được đưa vào lòng thực quản theo dây dẫn qua máy nội soi rồi tiến hành bơm căng bóng hơi (áp lực nong trong khoảng 5 PSI) để làm giãn tối đa cơ thắt thực quản dưới, xé rách cơ thắt gây mất tác dụng co thắt nhưng vẫn giữ nguyên lớp niêm mạc.

(Kíp nội soi can thiệp thực hiện phương pháp nội soi can thiệp nong thực quản – tâm vị bằng bóng hơi trên người bệnh N.V.H)

Cách thức can thiệp nong thực quản – tâm vị

(Hình ảnh: Nội soi nong thực quản-tâm vị bằng bóng hơi áp lực)

(Hình ảnh: Sau can thiệp tâm vị đã được mở sau nong, dịch thoát lưu bình thường)

(Người bệnh đã ổn định sau can thiệp 12h, có thể ăn được thức ăn lỏng và đặc, không còn cảm giác nuốt nghẹn)

Theo TS.BS. Đặng Chiều Dương, đây là tình trạng cơ thắt dưới của thực quản không còn khả năng tự mở tốt khi có phản xạ nuốt, khiến thức ăn từ thực quản khó hoặc không xuống được dạ dày. Bệnh co thắt tâm vị thường tiến triển trong thời gian dài với triệu chứng thường gặp là nuốt nghẹn (cả thức ăn lỏng và thức ăn đặc). Các triệu chứng khác của bệnh gồm, đau ngực, trào ngược, sụt cân, nôn ọe thức ăn chưa tiêu hóa, sặc thức ăn, viêm phổi hít,… Bệnh dễ bị nhầm lẫn với bệnh lý trào ngược dạ dày thực quản. Nếu không được chẩn đoán và điều trị đúng có thể gây suy kiệt cơ thể, viêm loét, chảy máu thực quản và có khả năng tiến triển thành ung thư thực quản.

Các phương pháp điều trị thường được áp dụng:

– Nong thực quản bằng bóng hơi: Hiệu quả cao, ít tốn kém, người bệnh có thể ăn trở lại sau 12-24h, thời gian nằm viện ngắn.

– Phẫu thuật cắt cơ Heller: Triệu chứng lâm sàng được cải thiện sau phẫu thuật đạt 80-90% các người bệnh, tuy nhiên là can thiệp xâm lấn, thời gian nằm viện dài hơn.

– Nội soi cắt cơ thắt thực quản: P.O.E.M (Per-Oral Endoscopic Myotomy). Chi phí cho P.O.E.M cao, tỷ lệ bệnh trào ngược dạ dày thực quản sau thủ thuật lớn hơn so với phương pháp phẫu thuật cắt cơ Heller.

– Tiêm Botulinum: Thời gian đáp ứng điều trị ngắn, tỷ lệ tái phát sau 6 tháng trên 50%).

– Điều trị thuốc uống: Nhóm ức chế kênh canxi, nhóm nitrate (hiệu quả lâm sàng kém, không cải thiện triệu chứng một cách đáng kể).

Co thắt tâm vị là tình trạng rối loạn vận động nguyên phát của thực quản, đặc trưng bởi tình trạng cơ thắt dưới thực quản không giãn, giãn cơ không đầy đủ và không có nhu động thực quản. Tần suất mắc bệnh 1-2/200.000, tỷ lệ mắc bệnh đều cả hai giới. Bệnh có thể gặp ở bất kỳ lứa tuổi nào nhưng lứa tuổi từ 30-50 có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn.

Đến nay, nguyên nhân của bệnh vẫn chưa được xác định rõ, không rõ yếu tố nguy cơ để phòng tránh. Khi có các triệu chứng nghi ngờ như nuốt khó, nuốt nghẹn, nôn sau khi ăn, trào ngược, đau tức ngực, gầy sút…, người bệnh cần đến bệnh viện để được thăm khám kỹ lưỡng, phát hiện kịp thời và điều trị hiệu quả.

TS. BS. Đặng Chiều Dương – Trưởng khoa Nội tiêu hóa

Bùi Thảo


1.jpg

Vừa qua, Khoa Ngoại Tổng hợp – Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp cơ sở 2 đã tiếp nhận trường hợp người bệnh N.D.C (45 tuổi) địa chỉ Hải An, Hải Phòng trong tình trạng đau dữ dội vùng bẹn trái giờ thứ 10. Qua thăm khám thấy người bệnh chỉ có 1 tinh hoàn bình thường bên phải, bên trái không có tinh hoàn xuống bìu. Người bệnh kể lại thỉnh thoảng thấy khối phồng ở vùng bẹn trái. Kết quả siêu âm Doppler tinh hoàn, phát hiện tinh hoàn trái trong ống bẹn, có phần mào tinh dày nhưng nhu mô tinh hoàn vẫn có tín hiệu cấp máu bình thường. Tuy có ít triệu chứng chẩn đoán chính xác nhưng với kinh nghiệm lâm sàng bác sĩ đã chẩn đoán tinh hoàn trái của người bệnh ẩn nghi xoắn và chỉ định phẫu thuật cấp cứu.

(Người bệnh N.D.C đã được thực hiện phẫu thuật cấp cứu)

Theo TS.BS Nguyễn Mạnh Thắng – Phụ trách Đơn vị Nam học, Khoa Ngoại Tổng hợp, Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp trực tiếp phẫu thuật cho người bệnh cho biết: “Không ngoài dự đoán trước khi phẫu thuật, tinh hoàn trái của người bệnh nằm trong ống bẹn có phần thừng tinh trong ổ bụng xoắn 360 độ gây nghẹt, mạch máu tinh hoàn, tinh hoàn và mào tinh đã nghẹt tím. Sau khi tiến hành tháo xoắn, cùng với việc phục hồi lại nguồn mạch nuôi dưỡng tinh hoàn kết hợp với một số biện pháp làm tăng lượng máu vào tinh hoàn, tinh hoàn đã hồng trở lại. Kíp phẫu thuật đã quyết định giữ lại tinh hoàn và hạ xuống bìu, cố định tinh hoàn, trước đó có sinh thiết nhu mô tinh hoàn để loại trừ ung thư. Ngày thứ hai sau phẫu thuật tình trạng người bệnh đã ổn định, siêu âm lại tinh hoàn trái trong bìu tín hiệu mạch tốt”.

(Hình ảnh: Tinh hoàn ẩn tại vùng bẹn của người bệnh được phẫu thuật tháo xoắn và đưa trở lại bìu)

TS.BS Nguyễn Mạnh Thắng cho biết thêm tinh hoàn ẩn là một dị tật bẩm sinh thường gặp do sự bất thường trong quá trình di chuyển của tinh hoàn từ ổ bụng xuống bìu trong thời kỳ bào thai. Các biến chứng của tinh hoàn ẩn là sự suy giảm khả năng sinh sản ở độ tuổi trưởng thành, ung thư tinh hoàn, xoắn tinh hoàn,…Với người bệnh ẩn tinh hoàn thì nguy cơ bị xoắn tinh hoàn sẽ cao hơn do tinh hoàn nằm cao ở trên bẹn, không được cố định vào bìu nhưng nhìn chung ít gặp. Đặc biệt nếu tinh hoàn ở trong bìu, khi có biểu hiện xoắn thường dễ chẩn đoán hơn, với các triệu chứng rõ ràng hơn như đau dữ dội vùng bìu, tinh hoàn bên bị xoắn treo cao. Trường hợp tinh hoàn ẩn, mất phản xạ da bìu khiến xoắn tinh hoàn ẩn thường khó chẩn đoán, dễ nhầm với các bệnh khác do chỉ có dấu hiệu đau vùng bẹn. Sự nhầm lẫn trong chẩn đoán có thể khiến người bệnh chậm trễ trong việc xử trí, làm ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị và tình trạng sức khỏe. Một khi đã nghi ngờ xoắn tinh hoàn, người bệnh cần phẫu thuật tháo xoắn khẩn cấp trong 6 giờ đầu vì đây là thời gian vàng, sau thời gian này tinh hoàn sẽ có nguy cơ hoại tử và phải cắt bỏ tinh hoàn; từ 6-12 giờ khả năng cứu được tinh hoàn chỉ là 50%; từ 12-24 giờ khả năng giữ được tinh hoàn là 30%; và sau 24 giờ thì hầu như phải cắt bỏ tinh hoàn do đã hoại tử.

Trường hợp người bệnh N.D.C là một trong số ca bệnh hiếm gặp vì người bệnh chỉ thỉnh thoảng thấy khối phồng ở vùng bẹn trái do tâm lí e ngại, chủ quan đã không đi khám đến khi tinh hoàn ẩn bị xoắn gây đau đớn nhiều mới nhập viện. Người bệnh đã rất may mắn vì được phẫu thuật kịp thời bảo tồn được tinh hoàn. Bác sĩ khuyến cáo người dân khi có những triệu chứng như đã mô tả ở trên, cần nhanh chóng đến các bệnh viện có uy tín để được thăm khám và điều trị kịp thời giúp nhanh chóng phục hồi sức khỏe và duy trì chức năng sinh sản nam giới về sau.

Với tinh thần tận tâm chăm sóc và lấy người bệnh làm trung tâm, Đơn vị Nam học – Khoa Ngoại tổng hợp Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp đang ngày càng nâng cao chất lượng chuyên môn để trở thành địa chỉ khám, chữa bệnh nam khoa hàng đầu tại Hải Phòng và các tỉnh lân cận. Để có thể chủ động hơn trong vấn đề sức khỏe, khi có biểu hiện của bệnh bạn có thể khám tại: Phòng khám Nam học, Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp (địa chỉ: Phòng 210 – Tầng 2 nhà G, Khoa Khám bệnh Đa khoa, số 1 Nhà Thương, Cát Dài, Lê Chân, Hải Phòng) hoặc gọi điện theo số điện thoại 0904.133.116 để được các chuyên gia tư vấn và giải đáp một cách nhanh chóng nhất.

TS.BS Nguyễn Mạnh Thắng – Phụ trách Đơn vị Nam học, Khoa Ngoại Tổng hợp

Nguyễn Hà


1-5.jpg

Đã từ lâu, rượu, bia được coi là đồ uống không thể thiếu trong mỗi dịp liên hoan, cưới hỏi,…đặc biệt là khi Tết đến, Xuân về. Trong những ngày này lượng rượu, bia tiêu thụ nhiều hơn, cùng với đó là số người nhập viện do say rượu, bia, thậm chí bị ngộ độc rượu cũng tăng cao hơn.
Nguyên nhân của ngộ độc rượu là do lạm dụng rượu, uống rượu vượt quá mức chấp nhận của cơ thể, do sử dụng rượu không đảm bảo an toàn thực phẩm như: uống phải rượu pha cồn công nghiệp methanol hoặc ethylene glycol; do uống rượu ngâm với thảo mộc (như lá, rễ, hạt cây) hoặc ngâm với động vật (như mật, phủ tạng,…) Trong 1 “đơn vị rượu” thường có từ 8-14g rượu nguyên chất chứa trong dung dịch đó. Mỗi đơn vị tương đương: 1 lon bia 270-330ml 2-12 độ hoặc 1 chén rượu vang 125ml 9-18 độ hay 1 chén rượu mạnh 40ml 40 độ. Nam giới uống quá 3 đơn vị rượu 1 ngày; nữ giới uống quá 2 đơn vị rượu 1 ngày được coi là lạm dụng rượu.

Uống rượu lâu ngày dẫn đến nghiện rượu, sút cân, chán ăn, ỉa chảy do tổn thương gan và ruột; da, niêm mạc nhợt nhạt do thiếu máu; thoái hóa gan, xơ gan, có thể ung thư gan; nhồi máu cơ tim, mất trí nhớ, run, rối loạn tinh thần,…
Phụ nữ mang thai uống nhiều rượu có thể gây sinh non, ảnh hưởng đến phát triển thể chất, tinh thần, trí tuệ của đứa trẻ, gây ngộ độc cho thai nhi.
Để phòng ngừa ngộ độc rượu bia trong dịp Tết, cần thực hiện các nguyên tắc sau:
1. Không uống cồn công nghiệp và rượu có hàm lượng Methanol > 0,1% vì có thể gây mù mắt và tử vong.
2. Không uống rượu nồng độ từ 30 độ trở lên vượt quá 30ml/người/ngày.
3. Không uống rượu ngâm với lá, rễ cây, phủ tạng động vật không rõ độc tính hay rượu ngâm theo kinh nghiệm cá nhân.
4. Không uống rượu khi: Không biết đó là rượu gì, rượu không có nguồn gốc, rượu không công bố tiêu chuẩn chất lượng, khi đang đói, mệt hoặc đang uống thuốc điều trị.
5. Trẻ em dưới 16 tuổi không được uống rượu bia.

Nguồn: Cục An toàn thực phẩm, Bộ Y tế


b-1.jpg

Dư âm những ngày Tết là những món ăn thịt cá nhiều đạm, nhiều loại bánh kẹo phong phú. Nhưng với những người bị bệnh suy thận phải lọc máu ngoài thận (chạy thận nhân tạo – lọc màng bụng), người bệnh vẫn phải thực hiện một chế độ ăn phù hợp với bệnh để không xảy ra những biến chứng đột ngột.

Có thể nói, thận là “cửa ngõ” của cơ thể với vai trò cực kỳ quan trọng là đảm bảo hằng định nội môi cho cơ thể thông qua việc đào thải các chất độc và đảm bảo cân bằng nước và các chất điện giải qua con đường nước tiểu. Khi thận bị suy, các chức năng này bị mất nên người bệnh phải được điều trị bằng các biện pháp thay thế thận như lọc máu chu kỳ, lọc màng bụng, ghép thận để loại bỏ các độc chất và lượng nước dư thừa trong máu. Sau đây là một số điểm mà người bệnh suy thận giai đoạn cuối cần chú ý khi ăn uống:

Ăn đủ protein giá trị sinh học cao

Mỗi một cuộc lọc máu, người bệnh mất đi khoảng 10-13g acid amin, 30g đường và một số các yếu tố vi lượng khác. Như vậy, với người bệnh lọc máu chu kỳ nếu cứ dùng chế độ ăn giảm đạm như trong điều trị chưa lọc máu thì chắc chắn người bệnh sẽ bị suy dinh dưỡng do thiếu đạm. Ngược lại nếu ăn quá nhiều protein, ăn tự do thì nồng độ ure máu trước kỳ lọc tăng cao, người bệnh lại rơi vào tình trạng mệt mỏi, chán ăn…

Do đó, đối với người bệnh lọc máu chu kỳ chế độ ăn được nâng cao nhưng phải bỏ quan niệm ăn uống tự do, tuỳ ý và phải tuân thủ các nguyên tắc sau:

– Đảm bảo năng lượng để duy trì cân nặng và thể trạng cho người bệnh. Nhu cầu khoảng 30 – 35 Kcalo/kg/ngày.

– Đủ đạm, lượng đạm cung cấp phải đủ cho hoạt động bình thường cũng như để bù đắp một phần cho lượng đạm bị mất đi trong quá trình lọc máu. Người bình thường cần 1g/kg/ngày thì người bệnh lọc máu cần 1,2 – 1,4 g/kg/ngày. Dùng các đạm quý như thịt nạc, tôm, trứng, cá, cua… Khoảng 50% năng lượng được cung cấp từ các chất đường như gạo, đường, quả ngọt… (không áp dụng cho người bệnh đái tháo đường có suy thận – lọc máu).

Giảm thiểu muối

Thận suy đã mất khả năng thải trừ muối qua nước tiểu nên khi người bệnh ăn nhiều muối sẽ tích nước gây phù, làm huyết áp tăng, phù phổi cấp, thậm chí có thể có triệu chứng của hội chứng tăng natri máu như đau đầu, nôn, dấu hiệu mất nước, và nặng hơn có thể hôn mê và tử vong.

Mặt khác, khi ăn mặn, người bệnh sẽ phải uống nhiều nước và điều này làm dư thừa lượng nước trong cơ thể quá nhanh và phải chạy thận nhân tạo nhiều lần hơn. Người bệnh suy thận mạn nên ăn nhạt với lượng muối 2-3g/ngày. Tránh các thức ăn mặn như nước mắm, mì ăn liền, đồ hộp mặn, trứng muối, cá biển…

Tránh các thức ăn chứa nhiều kali

Tăng kali máu luôn là một biến chứng nguy hiểm hàng đầu ở những người bệnh suy thận mạn phải lọc máu chu kỳ. Bình thường, lượng kali trong máu dao động trong khoảng từ 3.5 – 5mmol/l và được thận điều chỉnh đào thải ra ngoài rất nhanh qua nước tiểu nếu lượng kali từ thức ăn đưa vào quá nhiều.

Ở người suy thận giai đoạn cuối, chức năng đào thải kali của thận gần như bằng không nên nguy cơ tăng kali máu luôn luôn hiện hữu và khi kali máu tăng cao, người bệnh có thể tử vong do loạn nhịp tim. Các thức ăn nhiều kali bao gồm các loại quả như chuối, đu đủ, dưa hấu, vải,… và một số loại thực phẩm đóng hộp. Một số loại sữa cũng có ghi rõ lượng kali trên nhãn mác và người bị suy thận có thể tham khảo trước khi dùng.

Hạn chế phốt pho

Phốt pho có trong hầu hết các loại thực phẩm cùng với canxi và vitamin D để giữ cho xương khỏe mạnh. Khi thận khỏe mạnh sẽ giữ lượng phốt pho phù hợp trong cơ thể của bạn. Nhưng khi bị suy thận, thận không hoạt động tốt, phốt pho có thể tích tụ nhiều trong máu, dẫn đến dư nhiều phốt pho. Hậu quả gây ra cường cận giáp, loãng xương và dễ gãy, xơ vữa mạch máu, khô da gây ngứa, đỏ mắt…

Người bệnh suy thận cần hạn chế thực phẩm chứa nhiều phốt pho, chỉ dùng trong khoảng 300-600 mg/ngày. Tùy thuộc vào giai đoạn bệnh thận, bác sĩ cũng có thể kê đơn một loại thuốc gọi là chất kết dính phốt phát, giúp thải phốt pho ra khỏi cơ thể. Do đó, người suy thận cần theo dõi lượng phốt pho ăn ăn hàng ngày bằng cách tránh thực phẩm có chứa nhiều phốt pho như phô mai, sữa, các loại rau họ đậu, ngũ cốc nguyên cám, vỏ bánh mì, socola sẫm màu, cá khô, các loại hạt,…

Điều chỉnh lượng nước vào cơ thể

Khi suy thận nặng, năng lực thải trừ nước cũng giảm đi, lượng nước đưa vào cơ thể phải dựa trên lượng nước tiểu của ngày hôm trước. Nếu uống nước tự do, thoải mái, thận không thải được nước ra khỏi cơ thể, nước sẽ bị giữ lại ở tế bào não, tim, phổi,… gây phù não, tràn dịch màng tim, màng phổi, màng bụng, huyết áp tăng, tim làm việc nhiều hơn sẽ nhanh chóng dẫn đến suy tim. Người bệnh sẽ có biểu hiện mệt mỏi, lờ đờ, khó thở,…Quy tắc đơn giản sau đây có thể sử dụng để tính toán lượng nước đưa vào:

Lượng nước uống = nước tiểu ngày hôm trước +500 ml.

Trong những ngày Tết, người bệnh thường kiêng khem quá mức gây mệt mỏi, hạ đường huyết hoặc ăn nhiều quá mức quy định khiến tăng kali, phù phổi. Ngoài ra, nhiều người bệnh có lịch trình du xuân, chúc Tết bận rộn mà không tuân thủ lọc máu định kỳ và các chế độ điều trị phối hợp cũng dẫn đến những hậu quả không mong muốn. Do đó, bên cạnh chế độ ăn uống, người bệnh chạy thận nhân tạo cần tuân thủ điều trị bằng thuốc và tăng cường tập thể dục, có chế độ ăn hợp lý. Từ đó, người bệnh sẽ giữ được sức khỏe và duy trì chất lượng cuộc sống dù thận không còn hoạt động tốt. Trong điều trị bất cứ bệnh lý nào dinh dưỡng cũng luôn là yếu tố quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình điều trị cũng như khả năng phục hồi sức khỏe của người bệnh. Người bệnh nên có một chế độ dinh dưỡng khoa học và tuân đúng theo hướng dẫn chỉ định của bác sĩ để có sức khỏe tốt.

BS.CKII Bùi Thị Thu Hằng – Trưởng khoa Thận nhân tạo, cơ sở An Đồng

Bùi Thảo


01.3-1200x801.jpg

Hiện nay, liệt VII ngoại biên là bệnh lý phổ biến đứng đầu trong số các bệnh của dây thần kinh mặt, bệnh do nhiều nguyên nhân như do lạnh, do viêm nhiễm (zona thần kinh, viêm tai giữa…), do chấn thương vùng đầu mặt,… và có thể xảy ra ở bất kỳ đối tượng, lứa tuổi nào. Biểu hiện chính của bệnh là liệt nửa mặt, méo miệng, tuy không gây nguy hiểm tới tính mạng nhưng để lại di chứng nặng nề nếu không được điều trị đúng cách. Để tránh các di chứng, bên cạnh việc điều trị liệt VII ngoại biên bằng tây y thì việc kết hợp điều trị bằng đông y được coi là phương pháp hiệu quả và nhanh chóng.

1. Bạn hiểu thế nào về liệt VII ngoại biên?

Dây thần kinh số VII là dây thần kinh vận động, chi phối vận động cơ mặt. Liệt dây thần kinh số VII ngoại biên là tình trạng mất vận động hoàn toàn hay một phần các cơ của nửa mặt, do tổn thương dây thần kinh mặt. Bệnh xảy ra khi dây thần kinh số VII bị chèn ép và gây sưng viêm.

Theo Y học cổ truyền (YHCT), liệt dây thần kinh số VII ngoại biên có bệnh danh là “Khẩu nhãn oa tà” do phong hàn, phong nhiệt, huyết ứ xâm phạm vào lạc mạch của ba kinh dương ở mặt làm khí huyết kém điều hoà, kinh cân thiếu dinh dưỡng không co lại được. Người bệnh thường có biểu hiện miệng méo, liệt mặt, mắt bên liệt nhắm không kín.

(Biểu hiện của liệt dây thần kinh số VII so với người bình thường)

2. Nguyên nhân gây bệnh và phân loại thể bệnh

Trong YHCT liệt VII ngoại biên chủ yếu do những nhóm nguyên nhân sau:

– Thể phong hàn: Bệnh xuất hiện sau khi gặp mưa, gió lạnh hoặc sáng sớm thức dậy sợ lạnh, rêu lưỡi trắng, thường do nhiễm lạnh.

– Thể phong nhiệt: Sốt, sợ gió, rêu lưỡi trắng dày, thường do nhiễm khuẩn (viêm tai giữa, zona tai, vùng mặt).

– Thể huyết ứ: Đau nhức ở mặt, hàm hoặc sau tai bên bệnh, thường do di chứng sau chấn thương (té ngã, sau mổ vùng chũm, hàm…).

3. Triệu chứng liệt VII ngoại biên do lạnh.

Bệnh thường xuất hiện đột ngột với các triệu chứng:

– Yếu một phần tới liệt hoàn toàn một bên mặt, tiến triển trong vài giờ hoặc vài ngày.

– Chảy nước dãi bên bệnh, thức ăn giắt vào kẽ răng và má.

– Tê bì nửa mặt, quanh xương hàm hoặc sau tai.

– Đau đầu, tăng cảm giác về âm thanh của tai bên bệnh.

– Giảm vị giác ở trước lưỡi bên bệnh kèm giảm tiết nước bọt, nước mắt.

– Mắt nhắm không kín, chảy nước mắt.

4. Điều trị liệt VII ngoại biên trong đông y tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp

Bên cạnh những phương pháp điều trị bằng y học hiện đại như sử dụng nhóm thuốc Corticoid, vitamin B liều cao, tăng dẫn truyền thần kinh,… thì tại Khoa Y học cổ truyền – Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp, người bệnh bị liệt VII ngoại biên sẽ được trị liệu phối kết hợp bằng các phương pháp điện châm, cứu ngải, xoa bóp – bấm huyệt, thủy châm và uống thuốc sắc.

(Máy điện châm, đèn hồng ngoại được trang bị tại Khoa Y học cổ truyền, Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp)

Đặc biệt, phương pháp châm cứu, xoa bóp bấm huyệt, cứu ngải là một trong những phương pháp hữu hiệu giúp điều trị liệt dây thần kinh số VII được ứng dụng rộng rãi trong chẩn trị YHCT. Bác sĩ sẽ dựa vào nguyên nhân gây bệnh và tình trạng cơ địa của mỗi người để đưa ra phác đồ phù hợp với từng phương pháp bởi hầu hết các trường hợp liệt dây thần kinh số VII ở giai đoạn đầu đều có thể chữa trị bằng vật lý trị liệu kết hợp với một số loại thuốc khác mà không cần can thiệp ngoại khoa.

(Người bệnh được thực hiện phương pháp châm cứu, điện châm tại Khoa Y học cổ truyền, Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp)

Theo TS.BS Nguyễn Thị Thuý, Khoa Y học cổ truyền chia sẻ: “ Bệnh lý ở giai đoạn đầu không gây nguy hiểm nhưng ảnh hưởng tới hình thái khuôn mặt, khả năng ăn nhai và người bệnh có thể khó khăn trong nhắm, mở mắt,… Nếu không được điều trị sớm và dứt điểm, bệnh sẽ ngày một nặng, gây nguy hiểm và khó điều trị khỏi hơn. Việc kết hợp giữa phương pháp xoa bóp – bấm huyệt, châm cứu và cứu ngải cùng vật lý trị liệu tự nhiên có tỉ lệ chữa khỏi bệnh lên đến 90%. Do vậy, đây chính là liệu pháp được nhiều người bệnh lựa chọn. Nếu thực hiện điều trị sớm và đúng phương pháp thì bệnh sẽ dần dần được hồi phục nhanh chóng.”

5. Làm thế nào để phòng ngừa liệt dây thần kinh số VII tái phát?

Để phòng ngừa liệt dây thần kinh số VII tái phát, người bệnh cần lưu ý:

– Duy trì thói quen vận động vừa sức, tập thể dục thể thao mỗi ngày giúp tăng cường lưu thông máu, chống sự co cứng cơ mặt và tránh ăn đồ cay nóng, sống lạnh.

– Vào mùa nóng, khi đi ngủ, không nên bật quạt đứng một chỗ hay để gió thổi trực tiếp vào mặt hoặc sau gáy.

– Khi thức dậy nên ngồi lại trong chăn vài phút để cơ thể thích nghi với nhiệt độ, nhiệt độ của điều hòa cần điều chỉnh cho phù hợp, không nên để nhiệt độ quá thấp so với nhiệt độ ngoài trời.

– Nếu phải di chuyển xa bằng tàu xe, hãy đóng kín cửa xe và đeo khẩu trang để tránh gió mạnh tạt vào mặt.

– Kiểm tra sức khỏe định kỳ để phát hiện sớm và hỗ trợ điều trị sớm các bệnh dễ gây liệt dây thần kinh số VII như: Cảm cúm, bệnh về tai mũi họng.

– Đặc biệt, khi có các dấu hiệu đau, tê giảm cảm giác một nửa bên mặt, người bệnh cần nhanh chóng đến các cơ sở y tế để được thăm khám và điều trị kịp thời.

TS.BS Nguyễn Thị Thuý, Khoa Y học cổ truyền

Phương Loan


1-1.jpg

Vừa qua, Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp đã tiếp nhận người bệnh P.T.T (62 tuổi), địa chỉ An Dương, Hải Phòng sau tai nạn giao thông ngã đập thân mình xuống nền cứng gây chấn thương cột sống nặng. Thân đốt sống L2 vỡ xẹp, gãy mỏm ngang bên trái các đốt sống L1, L2, L3, L4 gây chèn ép thần kinh, khiến người bệnh phải chịu cơn đau vô cùng nặng nề và không thể đi lại được.

Sau khi thăm khám và làm các xét nghiệm cận lâm sàng cần thiết, các bác sĩ Khoa Ngoại Sọ não – Cột sống đã quyết định sử dụng phương pháp can thiệp tạo hình thân đốt sống bằng bơm xi măng qua da để điều trị cho người bệnh. Bác sĩ sử dụng kim dài chọc qua da và bơm vào đốt sống bị xẹp một hợp chất đặc biệt, gọi là xi măng sinh học. Hợp chất này sau khi vào thân đốt sẽ hàn những vết nứt gãy trong thân đốt sống, nâng thân đốt sống phồng lên và đông cứng lại như xương qua đó giúp khắc phục tình trạng vỡ, xẹp. Khi đốt sống xẹp được tái cấu trúc, thần kinh cũng được giải phóng chèn ép và sẽ giảm triệu chứng đau.

(Các y, bác sĩ bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp, thực hiện kỹ thuật bơm xi măng

tạo hình lại đốt sống bị vỡ, xẹp cho người bệnh P.T.T)

Theo TS.BS Đặng Việt Sơn – Phó trưởng Khoa Ngoại Sọ não – Cột sống cho biết: “Toàn bộ quá trình bơm xi măng tạo hình thân đốt sống qua da được giám sát trên hệ thống máy C-arm nên bác sĩ có thể kiểm soát được dòng chảy của xi măng giúp tăng hiệu quả điều trị và an toàn cho người bệnh. Quá trình thực hiện tạo hình lại thân đốt sống xẹp được diễn ra trong 20 phút. Chỉ cần gây tê tại chỗ, với đường mổ nhỏ nhất, người bệnh hoàn toàn ổn định trong toàn thời gian can thiệp. Kết thúc can thiệp theo đánh giá lâm sàng, triệu chứng đau của người bệnh đã lập tức cải thiện 90%”.

(Hình ảnh: Xi măng sinh học được bơm vào đốt sống bị vỡ xẹp)

Bơm xi măng sinh học vào thân đốt sống là một kỹ thuật ít xâm lấn, ít gây tổn thương các cấu trúc xung quanh và đặc biệt không cần gây mê toàn thân. Do đó, người bệnh ít bị các tác dụng phụ không mong muốn, hiệu quả đạt được về tạo hình lại thân đốt sống rất cao, tác dụng giảm đau và chỉnh hình cột sống tốt, thời gian nằm viện ngắn. Đây là một giải pháp đặc biệt hữu ích cho những người bệnh lớn tuổi sức khỏe yếu, nhiều bệnh lý nền phối hợp không chịu được một cuộc phẫu thuật lớn.

Trước đây khi một người bệnh bị vỡ xẹp đốt sống thường được chỉ định điều trị bảo tồn, dùng thuốc nằm nghỉ ngơi tại giường khoảng 6 – 8 tuần, dùng áo nẹp lưng và chờ đốt sống liền xương trở lại. Người bệnh phải chịu đựng cơn đau kéo dài, nằm lâu dẫn đến các biến chứng như: loét, viêm phổi hay nhiễm trùng đường tiểu. Kỹ thuật bơm xi măng sinh học giúp người bệnh giảm đau rất nhanh, lấy lại được vận động sớm, tránh được các biến chứng do nằm lâu ngày. Kĩ thuật này còn có hiệu quả điều trị trong các trường hợp người bệnh bị xẹp thân đốt sống do loãng xương, gãy lún đốt sống cấp tính, bị ung thư khối u di căn thân đốt sống,…Ngoài ra, đối với những người bệnh lớn tuổi, mật độ, cấu trúc xương yếu nên vấn đề điều trị loãng xương tiếp theo rất quan trọng để tránh các bệnh lý gãy xương thứ phát sau này.

(Người bệnh P.T.T đã có thể đứng dậy, đi lại sau can thiệp bơm xi măng

 tạo hình thân đốt sống qua da)

Trong thời gian qua, kĩ thuật bơm xi măng tạo hình thân đốt sống qua da đã được thực hiện thường quy tại Khoa Ngoại Sọ não – Cột sống và chưa ghi nhận trường hợp nào có tai biến cũng như biến chứng trong và sau can thiệp. Người bệnh có sự cải thiện tình trạng bệnh lên tới 98%, không phải chuyển lên bệnh viện tuyến Trung ương, hạn chế mức chi trả về kinh tế cho người bệnh. Thời gian tới, Khoa tiếp tục nghiên cứu cải tiến kĩ thuật với mong muốn trong tương lai gần đem tới các kĩ thuật điều trị mới, hiệu quả hơn nữa đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh của người dân thành phố cũng như các tỉnh thành lân cận.

TS.BS Đặng Việt Sơn, Phó Trưởng Khoa Ngoại Sọ não – Cột sống

Nguyễn Hà


yh2.jpg

 

Ngày nay, bên cạnh sự phát triển vượt bậc của nền y học hiện đại (YHHĐ)  cùng với việc ứng dụng nhiều thành tựu khoa học – công nghệ trong công tác khám chữa bệnh thì y học cổ truyền (YHCT) vẫn giữ một vai trò quan trọng, nhất là trong việc phối hợp giữa đông y và tây y để điều trị cho người bệnh.

  1. Bạn đã thực sự hiểu rõ về Y học cổ truyền?

Y học cổ truyền là phương pháp sử dụng các bài thuốc được lưu truyền từ xa xưa, trong đó các phương pháp trị liệu như xoa bóp, châm cứu, bấm huyệt,… cũng đã được chứng minh về tính hiệu quả và an toàn. Trong thực hành lâm sàng, điều trị các bệnh lý cấp tính vốn là thế mạnh của YHHĐ, song YHCT lại rất hữu ích đối với người bệnh mắc bệnh mạn tính; di chứng do tai biến hoặc các bệnh lý rối loạn cơ năng. Chính vì thế, ở thời điểm hiện tại YHCT vẫn mang lại lợi ích đáng kể cho người bệnh. Sự phối hợp giữa YHHĐ và YHCT phù hợp sẽ mang lại hiệu quả rất tốt.

 (Các loại thuốc sử dụng trong đông y thảo dược được trồng trong tự nhiên)

  1. Các phương pháp chẩn đoán trong Y học cổ truyền

Nếu như trong tây y có rất nhiều phương pháp để kiểm tra sức khỏe người bệnh như khám lâm sàng, xét nghiệm, siêu âm, nội soi, chụp X-quang,… thì ở YHCT, chúng ta có thể chẩn đoán bệnh bằng phương pháp “tứ chẩn” bao gồm:

  • Vọng chẩn: Quan sát tình trạng người bệnh

Đây là phương pháp nhận biết và xác định bệnh thông qua quan sát các yếu tố bên ngoài của người bệnh như các bộ phận ở mặt, mắt, lưỡi, màu sắc của da,… do những bộ phận này có mối liên hệ với cơ quan nội tạng bên trong và tình trạng bệnh trong cơ thể sẽ theo đó mà được “phản ánh” ra ngoài. Trong đó, xem lưỡi để chẩn đoán bệnh được coi là một trong những điểm đặc sắc của YHCT.

  • Văn chẩn: Lắng nghe âm thanh, ngửi chất thải từ người bệnh

Việc chẩn đoán bệnh sẽ được nhận định thông qua những gì bác sĩ quan sát được từ đặc điểm bên ngoài của người bệnh, sau đó bác sĩ sẽ “lắng nghe” đến tính chất về âm thanh của người bệnh như tiếng thở, tiếng ho và mùi phát ra từ cơ thể người bệnh. Từ đó, bác sĩ sẽ bước đầu xác định được vấn đề mà họ đang gặp phải là gì.

  • Vấn chẩn: Hỏi về tiền sử, diễn tiến của bệnh

Ở phương pháp này, bác sĩ sẽ thu thập thêm thông tin bằng cách hỏi người bệnh về thói quen sinh hoạt thường ngày, chế độ ăn uống, tiền sử bệnh, diễn tiến bệnh từ lúc khởi phát đến lúc thăm khám.

  • Thiết chẩn: Sử dụng phương thức thăm khám và chẩn đoán bệnh

Bác sĩ sẽ tiến hành khám bằng cách sờ nắn da, thịt, tay chân, bụng để xem vị trí và xác định tính chất của bệnh và bắt mạch để biết được tình trạng của cơ quan nội tạng bên trong cơ thể. Bắt mạch chẩn đoán bệnh là một phương pháp khám bệnh vô cùng đặc trưng chỉ có thể thấy ở YHCT.

Song song với các phương pháp trên, YHCT cũng kết hợp cùng các chẩn đoán cận lâm sàng trong tây y để đưa ra hướng điều trị phù hợp, an toàn và hiệu quả nhất.

  1. Các bệnh lý được phối kết hợp điều trị trong Y học cổ truyền

   – Các bệnh về xương khớp: thoái hóa khớp, thoái hóa cột sống, loãng xương, viêm khớp dạng thấp, thoát vị đĩa đệm, bệnh gout, viêm quanh khớp vai,…

   – Các bệnh về tiêu hóa: viêm đại tràng mạn tính, viêm da dày mạn tính, bệnh đại tràng chức năng, xơ gan do rượu còn bù,…

  – Bệnh về thần kinh: Di chứng liệt sau chấn thương; phẫu thuật cột sống; viêm tủy cắt ngang; viêm dây thần kinh ngoại biên; các di chứng liệt thần kinh ngoại biên (liệt thần kinh quay, thần kinh trụ, hội chứng ống cổ tay, đau thần kinh ngoại biên,…); Liệt một số dây thần kinh như liệt VII ngoại biên, liệt dây III, IV, VI; đau dây V; đau sau zona; hội chứng tiền đình…

  – Phục hồi chức năng sau tai biến mạch máu não: liệt nửa người, nói ngọng, rối loạn nuốt, bí tiểu,…

Các chứng thần kinh thực vật: ra mồ hôi tay chân, suy nhược thần kinh, suy nhược cơ thể, rối loạn cương dương, rối loạn kinh nguyệt, mất ngủ,…

Các bệnh chuyển hóa: béo phì; tăng mỡ máu; hỗ trợ điều trị đái tháo đường và các biến chứng thần kinh ngoại biên của đái tháo đường typ 2 (tê bì, viêm dây thần kinh..); tăng acid uric máu; hội chứng bệnh chuyển hóa (đái tháo đường, tăng mỡ máu, tăng acid uric),…

Các bệnh hệ thận tiết niệu: sỏi thận tiết niệu không có chỉ định phẫu thuật (sỏi nhỏ < 1 cm), đái rắt, đặc biệt u xơ tiền liệt tuyến chưa có chỉ định ngoại khoa,…

Các bệnh về tim mạch: hỗ trợ điều trị tăng huyết áp, rối loạn thần kinh tim, thiểu năng tuần hoàn não, hội chứng tiền đình, huyết áp thấp, suy tĩnh mạch, vữa xơ động mạch,…

  1. Điều trị bằng Y học cổ truyền tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp

Bên cạnh việc nghiên cứu, học hỏi, trau dồi về chuyên môn cùng các kỹ thuật mới, Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp cũng chú trọng kết hợp giữa YHCT và YHHĐ trong công tác khám, chữa bệnh để nâng cao chất lượng điều trị, chăm sóc toàn diện cho người bệnh.

Tại Khoa Y học cổ Truyền, Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp người bệnh sẽ được thăm khám và điều trị bởi các bác sĩ chuyên khoa, giàu kinh nghiệm cùng với các phương pháp trị liệu như điện châm, thủy châm, xoa bóp – bấm huyệt, cấy chỉ catgut trên huyệt, giác hơi,…cùng các bài thuốc cổ phương, nghiệm phương và một số phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc mang lại hiệu quả cao.

(Người bệnh được điều trị kết hợp với phương pháp trị liệu xoa bóp – bấm huyệt tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp)

          Đặc biệt, đối với những người có bệnh lý nền như thần kinh, tim mạch, nội tiết, tiêu hóa, hô hấp,… sẽ được đội ngũ y, bác sĩ sử dụng phác đồ điều trị hợp lý khi kết hợp với các chuyên khoa lâm sàng để điều trị cùng hệ thống máy móc, trang thiết bị hiện đại như máy CT 768 lát, máy chụp cộng hưởng từ MRI 3.0 và hệ thống xét nghiệm labo nhanh chóng, chính xác.

Không chỉ vậy, trong những năm qua, đội ngũ y, bác sĩ Khoa Y học cổ truyền luôn nỗ lực không ngừng trong công tác nghiên cứu, phát triển, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và kết hợp linh hoạt giữa tây y và đông y trong chẩn đoán và điều trị để mang đến cho người bệnh những trải nghiệm tốt nhất.

Với đội ngũ các y, bác sĩ giỏi chuyên môn, tận tâm, Khoa Y học cổ truyền Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp luôn sẵn sàng tư vấn, giải đáp mọi thắc mắc của người bệnh và hứa hẹn là địa chỉ uy tín trong việc khám, điều trị bệnh về đông y cho người dân Hải Phòng nói riêng cũng như người dân tại các tỉnh lân cận nói chung.

Người dân có nhu cầu xin liên hệ: Khoa Y học cổ truyền, tầng 2 nhà D, Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp. Hotline: 0255.626.2282

BSCKI Nguyễn Văn Quang – Khoa Y học cổ truyền

Phương Loan

 


1.png

Khi mà xã hội phát triển không ngừng thì nhu cầu làm đẹp cũng ngày càng tăng cao để phục vụ các thượng đế muốn níu kéo tuổi thanh xuân tươi trẻ của mình. Trong số các phương pháp thẩm mỹ nhằm mang lại vẻ đẹp vĩnh cửu, nhiều người ngày càng ưu ái thần dược Botox bởi công dụng làm đẹp nhanh chóng, không đau đớn, không mất thời gian nghỉ dưỡng. Vậy đây có phải là tiên dược hữu hiệu trong việc bảo vệ sắc đẹp, ngăn chặn thời gian hay không? Hãy cùng tìm hiểu trong bài viết sau đây:

  1. Botox hoạt động ra sao?

Botulium toxin (Botox) là tên của thành phần protein tinh chất được chiết xuất từ một loại vi sinh dùng trong chữa trị thẩm mỹ.  Các loại thuốc tiêm Botox được FDA chấp thuận được bào chế chính xác để cung cấp lượng nhỏ hóa chất tự nhiên một cách có kiểm soát.

(ST)

Trong các ứng dụng thẩm mỹ, tiêm botox là phương pháp làm đẹp không phẫu thuật, giúp xóa các khuyết điểm lão hóa như vết chân chim đuôi mắt, nếp nhăn trán, nếp cau mày,… Phương pháp này không có tác dụng vĩnh viễn mà thường chỉ duy trì hiệu quả khoảng 4-6 tháng. Sau thời gian đó, bạn có thể cần phải tiêm botox lại nếu muốn duy trì hiệu quả xóa nhăn.

  1. Ứng dụng tiêm botox trong thẩm mỹ

Trong thẩm mỹ Botox có rất nhiều tác dụng thần kì để làm đẹp nhưng nhìn chung sẽ thuộc 4 loại chính sau đây:

Xóa nếp nhăn

Các nếp nhăn ở trán, đuôi mắt, giữa hai chân mày dễ xuất hiện do biểu cảm cười, cau mày hay nhăn trán. Những nếp nhăn động và nếp nhăn tĩnh nông có hiệu quả đối với phương pháp tiêm botox. Còn những nếp nhăn tĩnh sâu sẽ được xử lý bằng một số phương pháp khác.

(ST)

Thon gọn gương mặt

Có nhiều phương pháp giúp làm thon gọn gương mặt tùy thuộc vào nguyên nhân. Nếu gương mặt to do cấu trúc xương sẽ làm gọn xương hàm bằng phẫu thuật. Khi gương mặt to do cơ thì tiêm botox sẽ giúp làm teo nhỏ cơ vùng hàm, nhờ đó gương mặt trông thon gọn hơn. Ngoài ra, trường hợp nhai không đồng đều làm cơ nhai phì đại một bên khiến cho gương mặt bất đối xứng. Lúc này, tiêm botox sẽ giúp làm teo nhỏ cơ nhai bị phì đại, trả lại gương mặt đối xứng hơn.

(ST)

Trẻ hóa toàn diện

Dùng Botulinum toxin tiêm vi điểm đều trên mặt có thể giúp giảm các nếp nhăn động và nếp nhăn tĩnh nông. Ngoài ra, phương pháp này còn giúp giảm kích thước lỗ chân lông và tạo hiệu ứng nâng khuôn mặt lên. Vì vậy, đây có thể coi là một phương pháp trẻ hóa toàn diện.

Điều trị tăng tiết mồ hôi

Tăng tiết mồ hôi gây nhiều phiền toái trong sinh hoạt và làm việc hàng ngày. Botox được chứng minh là đem lại hiệu quả tương đối cao giúp cải thiện tình trạng. Tuy nhiên, tiêm vào lòng bàn tay hay vùng nách sẽ gây cảm giác đau. Vì vậy, vô cảm kỹ vùng tiêm giúp người bệnh dễ chấp nhận.

  1. Tiêm Botox có an toàn không?

Tiêm Botox được các chuyên gia đầu ngành thẩm mỹ đánh giá là giải pháp giúp xóa nhăn, căng da, thon gọn hàm – mặt hiệu quả và an toàn. Để có được kết quả hoàn hảo sau khi tiêm Botox, tránh tình trạng đơ cứng, phù nề, mất cảm giác, người dân cần chọn cơ sở thẩm mỹ uy tín, chất liệu tiêm rõ ràng nguồn góc xuất xứ và được bác sĩ tư vấn dựa vào tình trạng của bản thân mà đưa ra liều lượng Botox cần tiêm thích hợp.

Tiêm botox chỉ nên được tiến hành bởi các bác sĩ da liễu có chuyên môn để đảm bảo được thực hiện một cách chính xác và tránh các tác dụng phụ không đáng có. Liệu pháp botox có thể nguy hiểm nếu không được thực hiện đúng cách. Trước khi tiến hành thủ thuật bác sĩ có thể tư vấn, đánh giá nhằm lựa chọn liệu trình phù hợp.

  1. Độ tuổi nào phù hợp để tiêm Botox?

Khi phụ nữ dưới 30 tuổi cân nhắc việc tiêm botox, mục tiêu thường là ngăn ngừa lão hóa. Ở những năm đầu của độ tuổi đôi mươi, chị em phụ nữ có thể dùng phương pháp này để cải thiện vấn đề mất đối xứng trên khuôn mặt (ví dụ lông mày rủ xuống, một bên mắt bị cụp,…), góc hàm vuông, to bạnh, thậm chí tật nghiến răng khi ngủ, làm mờ vết nhăn, mờ sẹo…. Ở một số phụ nữ, dấu hiệu lão hóa sớm như vết chân chim, trán nhăn,… gây ra sự lo lắng và chán nản. Những nếp nhăn ấy sẽ chỉ ngày càng sâu hơn khi bạn già đi, nhưng nếu bạn bắt đầu tiêm botox sớm, botox sẽ phát huy hiệu quả tốt hơn và khi lớn tuổi, bạn sẽ không cần phải sử dụng quá nhiều. Mặc dù không có thời điểm hoàn hảo để tiến hành tiêm Botox nhưng bạn nên bắt đầu thực hiện khi thấy dấu hiệu của những nếp nhăn.

Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp sở hữu đội ngũ y, bác sĩ chuyên khoa da liễu hàng đầu tại Hải Phòng. Với kinh nghiệm dày dặn cùng tay nghề chuyên môn cao, khoa Da liễu không chỉ thực hiện nhiệm vụ khám chữa bệnh mà còn đã và đang triển khai các dịch vụ làm đẹp uy tín, chất lượng. Hãy liên hệ tới SĐT: 0225262529 để được tư vấn và đặt lịch khám!

Ths. BSCKII Nguyễn Xuân Hương – Trưởng khoa Da liễu

Bùi Thảo

 


l5-1200x900.jpg

Ứng dụng vi phẫu thuật nối các phần cơ thể đứt rời hay các tổn thương đứt mạch máu, dây thần kinh hoặc chuyển ghép thần kinh, chuyển vạt tự do để điều trị những khuyết hổng ở chi thể là một trong những ứng dụng thành công của đội ngũ y, bác sĩ  Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp. Chính vì vậy, trong những năm vừa qua, có rất nhiều trường hợp người bệnh bị tai nạn nghiêm trọng đã được cấp cứu, điều trị và phục hồi chức năng đạt hiệu quả cao tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp.

Vừa qua, Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp tiếp nhận trường hợp người bệnh T.T.T (65 tuổi) trú tại Thủy Nguyên, Hải Phòng bị tai nạn do máy thái chuối cắt vào tay khiến người bệnh bị đứt lìa ngón II tay phải và đứt gần rời ngón III tay phải. Người nhà sau đó đã bảo tồn phần bị đứt rời và đưa cùng theo người bệnh đến Bệnh viện để cấp cứu.

Qua thăm khám và đánh giá tình trạng tổn thương sơ bộ ban đầu, các y, bác sĩ trong ê kíp Vi phẫu – tạo hình – thẩm mỹ của Bệnh viện đã nhanh chóng hội chẩn và đưa ra quyết định điều trị bảo tồn cho người bệnh bằng kỹ thuật vi phẫu thuật nối lại ngón tay bị đứt rời, giúp người bệnh có đôi tay nguyên vẹn trở lại.

(Các y, bác sĩ thực hiện vi phẫu thuật nối lại ngón tay cho người bệnh)

Sau 3 giờ phẫu thuật, ê kíp phẫu thuật đã nối lại thành công các mạch máu, dây thần kinh trong ngón tay đứt rời và găm kim Kirschner cố định trục ngón. Sau nối mạch, kiểm tra phần đứt rời thấy búp ngón hồng căng, cấp máu tốt. Đến nay, sau thời gian điều trị 1 tuần, ngón tay đã dần trở lại bình thường, người bệnh bắt đầu thực hiện các bài tập phục hồi chức năng dưới sự hướng dẫn chuyên môn của bác sĩ để chuẩn bị xuất viện và trở về với cuộc sống bình thường mới.

(Bàn tay của người bệnh trước khi phẫu thuật)

(Bàn tay của người bệnh sau phẫu thuật)

Theo TS.BS. Nguyễn Đức Thành – Trưởng Khoa Điều trị theo yêu cầu, Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp, người trực tiếp phẫu thuật và điều trị cho cô T. cho biết: “Người bệnh vào viện trong tình trạng tỉnh táo, bàn tay phải có một ngón đứt lìa và một ngón gần lìa được băng ép lại để cầm máu. Sau khi thăm khám, đánh giá tình trạng vết thương của người bệnh, chúng tôi nhận thấy khả năng phục hồi cao nên ê kíp đã nhanh chóng, kịp thời triển khai phẫu thuật nối lại để đảm bảo chức năng bàn tay cũng như tính thẩm mỹ cho người bệnh. Cái khó và phức tạp của trường hợp này là mạch máu ở đầu ngón tay quá nhỏ, tổ chức đầu trung tâm bị bầm dập, nát, có nhiều dị vật, cùng với đó là phần tay bị lìa không được bảo quản đúng cách nên việc phẫu thuật để nối lại cũng gặp rất nhiều khó khăn. Do đó, đòi hỏi phẫu thuật viên phải thao tác một cách khéo léo, tỉ mỉ cao trong cuộc phẫu thuật. Các y, bác sĩ phải sử dụng bộ dụng cụ vi phẫu chuyên dụng kết hợp tay nghề chuyên môn thuần thục mới có thể thực hiện các thao tác khâu nối các động, tĩnh mạch nhỏ với kích thước chỉ khoảng 1mm”.

Không giấu nổi sự vui mừng cùng niềm xúc động, người bệnh T.T.T chia sẻ “Trong khoảnh khắc bị máy thái cắt đứt ngón tay, tôi vô cùng đau đớn và lo lắng rằng mình sẽ mất đi ngón tay đó mãi mãi, cũng như phải sống cả đời với đôi tay không được nguyên vẹn. Song, thật may mắn khi tôi được các y, bác sĩ tại đây tận tình cứu giúp. Hiện tại, sức khỏe của tôi đã dần ổn định, có thể cử động nhẹ nhàng ở bàn tay mà không cảm thấy đau tức, khó chịu. Tôi thật sự rất biết ơn các y, bác sĩ đã điều trị, chăm sóc và theo dõi sự tiến triển hằng ngày cho tôi. Tôi cũng hy vọng rằng với sự phát triển không ngừng của Bệnh viện thì ngày càng có nhiều người bệnh được cứu chữa kịp thời như tôi”.

(TS.BS. Nguyễn Đức Thành – Trưởng Khoa Điều trị theo yêu cầu thực hiện thăm khám, kiểm tra vết mổ cho người bệnh)

Trước đây, khi chưa triển khai kỹ thuật Vi phẫu thuật nối chi thể đứt rời thì người bệnh thường được sơ cứu ban đầu rồi chuyển lên tuyến Trung ương hoặc sẽ cắt bỏ phần chi bị đứt và tạo mỏm cụt nếu các mô đứt lìa bị hoại tử. Chính vì thế, với mong muốn để người bệnh được hưởng những kỹ thuật cao ngay tại tuyến cơ sở và nâng cao hiệu quả của công tác điều trị, đội ngũ các y, bác sĩ Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp được đào tạo bài bản, chuyên sâu, đã luôn không ngừng cố gắng nghiên cứu, học hỏi và trau dồi kinh nghiệm hơn nữa về Phẫu thuật tạo hình Vi phẫu.

Hiện tại, kỹ thuật này đang được áp dụng thường quy tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp, mang đến nhiều hy vọng mới, cũng như một kết quả điều trị tích cực cho những trường hợp người bệnh không may bị tai nạn đứt rời chi trong quá trình lao động, sinh hoạt, đồng thời làm giảm bớt di chứng nặng nề, giúp họ dễ dàng trở lại cuộc sống bình thường. Với đội ngũ y, bác sĩ tận tâm, được đào tạo chuyên nghiệp, cùng trang thiết bị hiện đại như kính hiển vi phẫu thuật, dụng cụ vi phẫu, chỉ vi phẫu,… Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp tự hào là một trong những đơn vị triển khai thực hiện thành công kỹ thuật nối vi phẫu chi thể đứt lìa.

Bên cạnh đó, các bác sĩ cũng khuyến cáo, khi thấy nạn nhân bị đứt rời chi, người dân cần gọi ngay trung tâm cấp cứu để được hỗ trợ y tế kịp thời, nếu có thể hãy nhanh chóng sơ cứu cầm máu, kết hợp nâng cao vùng chi bị tổn thương để hạn chế máu chảy. Đồng thời, cần nhanh chóng tìm cách bảo quản đúng phần chi đứt rời và chuyển cùng với người bệnh đến bệnh viện để được bác sĩ cấp cứu và thực hiện phẫu thuật nối chi kịp thời.

TS.BS. Nguyễn Đức Thành, Trưởng Khoa Điều trị theo yêu cầu

Bùi Văn Quang, Khoa Ngoại ung bướu & chăm sóc giảm nhẹ

Phương Loan

 


1-7.jpg

Theo TS.BS Đặng Việt Sơn, Phó Trưởng khoa Ngoại Sọ não – Cột sống, Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp cho biết: “Khi thoát vị đĩa đệm cột sống không đáp ứng với điều trị nội khoa hoặc sau sáu tuần điều trị nội khoa không đỡ, người bệnh sẽ được chỉ định phẫu thuật thoát vị đĩa đệm. Đặc biệt chỉ định phẫu thuật cấp cứu sẽ được thực hiện ngay khi người bệnh có tổn thương liệt rễ thần kinh, bí đái cấp, đau quá mức. Hiện nay có nhiều phương pháp phẫu thuật thoát vị đĩa đệm như: Phẫu thuật nội soi, phẫu thuật vi phẫu, phẫu thuật mổ mở thường qui với mục đích chính là lấy bỏ nhân nhầy thoát vị và giải phóng chèn ép tủy, rễ thần kinh. Tùy vào từng tình trạng tổn thương của người bệnh do khối thoát vị đĩa đệm gây ra mà bác sĩ sẽ đưa ra giải pháp thích hợp nhất”.

Tại bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp phương pháp phẫu thuật vi phẫu thoát vị đĩa đệm được triển khai thực hiện từ năm 2017 và trở thành phẫu thuật thường quy cho người bệnh điều trị tại Khoa Ngoại Sọ não – Cột Sống. Phẫu thuật này được thực hiện thành công trên rất nhiều người bệnh bị thoát vị đĩa đệm giúp cải thiện được tình trạng đau cũng như biến chứng của bệnh. Đây là phương pháp phẫu thuật xâm lấn tối thiểu được thực hiện với sự hỗ trợ của hệ thống kính vi phẫu hiện đại có khả năng phóng đại 20-25 lần so với khi nhìn bằng mắt thường để loại bỏ phần thoát vị đang gây áp lực lên các đốt sống. Đây cũng được xem là biện pháp phẫu thuật điều trị thoát vị đĩa đệm tốt nhất hiện nay.

(Hình ảnh: TS.BS Đặng Việt Sơn, Phó Trưởng khoa Ngoại Sọ não – Cột sống, Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp, tiến hành phẫu thuật vi phẫu thoát vị đĩa đệm cho người bệnh) 

Phẫu thuật vi phẫu thoát vị đĩa đệm với rất nhiều ưu điểm vượt trội như:

– Vết mổ nhỏ: Chỉ cần một đường mổ nhỏ 2-3 cm, bác sĩ đã có thể đưa các dụng cụ phẫu thuật vào bên trong để lấy nhân đĩa đệm ra ngoài.

– Ít mất máu: Với đường mổ nhỏ, người bệnh sẽ mất khoảng 10ml thay vì 200-300ml như các phương pháp mổ mở thông thường.

– Hạn chế tổn thương dây thần kinh và các mô lân cận: Dưới sự hướng dẫn của kính vi phẫu và các dụng cụ chuyên dụng, phẫu thuật viên sẽ tiếp cận nhanh và chính xác khối thoát vị, tránh làm tổn thương khu vực lân cận.

– Thời gian phẫu thuật ngắn: Các ca vi phẫu thoát vị đĩa đệm thường mất từ 30 – 60 phút, người bệnh ít mệt mỏi và tránh được biến chứng do bị gây mê quá lâu.

– Giảm tỷ lệ nhiễm trùng: Với vết phẫu thuật nhỏ, ít tổn thương mô, giảm chảy máu nên tỷ lệ nhiễm trùng thấp.

– Rút ngắn thời gian phục hồi: Nhờ ít đau, ít bị nhiễm trùng, ít mất máu nên thời gian phục hồi của người bệnh được rút ngắn. Người bệnh có thể đi lại sau 24h phẫu thuật, nằm viện ít ngày, tiết kiệm chi phí hiệu quả.

 Sau phẫu thuật vi phẫu thoát vị đĩa đệm người bệnh lưu ý:

– Nên nghỉ ngơi tại giường từ 5-7 ngày, qua thời gian này có thể đi lại nhẹ nhàng đồng thời cần tránh các hoạt động có cường độ mạnh.

– Không phải mang áo nẹp cố định

– Nên thông báo với bác sĩ nếu cơ thể có dấu hiệu nhiễm trùng như sốt, nóng ấm ở vị trí phẫu thuật, đau cơ toàn thân, đau họng,…

– Bổ sung những thực phẩm có lợi cho xương khớp như: sữa, trứng, hải sản, rau xanh, trái cây,…Nếu thực hiện phẫu thuật đĩa đệm cổ, người bệnh nên uống nhiều nước có thể ăn cháo loãng trong 7 ngày để giảm áp lực cơ quan này.

– Nên luyện tập các động tác vật lý trị liệu theo hướng dẫn của chuyên viên phục hồi chức năng để cải thiện chức năng vận động và rút ngắn quá trình phục hồi.

(Người bệnh được tập phục hồi chức năng tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp)

Phẫu thuật vi phẫu thoát vị đĩa đệm là một thủ thuật can thiệp xâm lấn tối thiểu, với nhiều ưu điểm nổi bật, giúp giải phóng người bệnh khỏi những rắc rối do bệnh thoát vị đĩa đệm gây ra. Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp, với đội ngũ chuyên gia đầu ngành ngoại khoa sọ não – cột sống giàu kinh nghiệm, tận tâm với người bệnh cùng hệ thống máy móc, trang thiết bị chẩn đoán hình ảnh hiện đại như: máy chụp CT 768 lát cắt Somatom Drive, máy cộng hưởng từ thế hệ mới, máy đo mật độ xương, máy siêu âm, hệ thống kính vi phẫu thuật,…đã phát hiện sớm các tổn thương và phẫu thuật điều trị thành công thoát vị đĩa đệm cho rất nhiều người bệnh. Người bệnh gần như được bảo vệ khỏi những biến chứng nguy hiểm và cải thiện cuộc sống sau khi thực hiện phẫu thuật. Để việc điều trị hiệu quả, người bệnh bị thoát vị đĩa đệm nên đến Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp để được khám chẩn đoán bởi chuyên khoa càng sớm càng tốt thực hiện theo đúng hướng dẫn của bác sĩ nhằm đạt được kết quả điều trị tốt nhất.

TS.BS Đặng Việt Sơn, Phó Trưởng khoa Ngoại Sọ não – Cột sống

Nguyễn Hà



BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT TIỆP

CƠ SỞ 1: Số 1 đường Nhà Thương

P. Cát Dài – Q. Lê Chân – Tp. Hải Phòng

CƠ SỞ 2: An Đồng

H. An Dương – Tp. Hải Phòng




KẾT NỐI

Fanpage Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp


Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp Cơ Sở 2




BẢN ĐỒ
medicare-logo-white

Sed magna nulla, pulvinar vel ante vel, fringilla vulputate nibh. In placerat facilisis tincidunt. Integer quis erat dictum, placerat massa non, bibendum ante. Duis aliquet tellus magna, quis egestas enim vulputate sed. Phasellus in dui malesuada, lacinia urna sed.

Bản quyền website thuộc về Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp 2022.