Thứ 2 - Thứ 607:00-17:00HOTLINE:1900 23.23.61

Y học thường thức / Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp

1.63.jpg

Sashimi là tên gọi cho một món khai vị từ cá và hải sản sống của người Nhật Bản. Sashimi có thành phần chính là các loại hải sản tươi sống, được cắt thành miếng mỏng. Dùng cùng với các loại nước chấm như xì dầu, nước tương, các loại gia vị như mù tạt, gừng, lá tía tô và củ cải trắng thái chỉ.

(ST)

Tuy nhiên, khi thưởng thức sashimi, bạn cần hiểu đúng về những lợi ích của sashimi và những lưu ý nguy cơ tiềm ẩn mà món ăn “đặc biệt” này mang lại. Hãy cùng tìm hiểu thêm qua bài viết sau đây:

1. Lợi ích của việc ăn sashimi

Sashimi luôn hấp dẫn không chỉ bởi màu sắc bắt mắt, nguyên liệu tươi ngon mà còn giàu chất dinh dưỡng, đặc biệt rất tốt cho sức khoẻ người tiêu dùng. Cùng điểm qua một số lợi ích tuyệt vời của việc ăn Sashimi tốt cho sức khoẻ:

– Sashimi có hàm lượng chất oxy hoá carotenoid dồi dào, cải thiện kết cấu da mịn màng ngăn sự lão hoá da và cơ thể, là thực phẩm tốt để giữ gìn vóc dáng, giảm cân.

– Các axit béo không bão hoà trong các loại Sashimi cá có thể làm giảm Cholesterol, giảm viêm, giảm Triglycerides, giảm huyết áp, giảm đông máu, giảm nguy cơ đột quỵ.

– Các Vitamin D có trong Sashimi ngăn ngừa bệnh thoái hoá cột sống và giúp điều trị các bệnh về xương khớp.

– Với những người muốn tăng cơ bắp, cải thiện hoặc phục hồi các vấn đề liên quan đến cơ bắp thì việc sử dụng Sashimi cá hồi, cá ngừ, tôm… hay các thực phẩm liên quan đến sashimi là rất cần thiết.

(ST)

2. Nguy cơ tiềm ẩn có trong Sashimi

Ngày nay, do sự phát triển nhanh chóng của xã hội, tỷ lệ ô nhiễm môi trường tăng cao, đặc biệt là ô nhiễm nguồn nước. Do đó, các sinh vật ở sông, biển mang một lượng chất độc hại hoá học rất lớn. Trong miếng cá sống, các nhà khoa học đã phát hiện ra nhiều vi khuẩn và ký sinh trùng có hại như listeria, vibrio, clostridium, salmonella và giun.

Những người có hệ miễn dịch yếu như người già, trẻ nhỏ và người bệnh HIV có nguy cơ nhiễm trùng vi khuẩn cao hơn so với người khoẻ mạnh.

2.1. Nhiễm trùng do giun

– Anisakiasis là một bệnh nhiễm trùng do giun có thể xảy ra nếu bạn ăn cá sống hoặc nấu chưa chín.

– Khi ăn phải loài giun nhỏ bé này có thể dẫn đến đau bụng dữ dội, buồn nôn và nôn mửa trong vòng vài giờ sau khi ăn. Thậm chí, giun có thể chui vào thành ruột, gây ra phản ứng miễn dịch cục bộ hoặc viêm trong ruột. Trong những trường hợp nghiêm trọng, có thể cần phải phẫu thuật để loại bỏ chúng. Điều này có thể cần thiết nếu giun Anisakis không được tống ra ngoài cơ thể một cách tự nhiên và gây ra các vấn đề về đường ruột.

– Bạn có nguy cơ mắc bệnh nếu ăn hải sản sống hoặc nấu chưa chín. Ký sinh trùng được tìm thấy thường xuyên ở trong cá tuyết, cá hồi, cá trích, cá bơn.

2.2. Nhiễm vi khuẩn Vibrio

– Nhiễm vi khuẩn Vibrio có liên quan đến việc ăn cá và động vật có vỏ sống hoặc nấu chưa chín, đặc biệt là hàu sống.

– Nhiễm trùng có thể gây ra các triệu chứng như tiêu chảy, đau quặn bụng, buồn nôn, nôn mửa, nhức đầu, sốt và ớn lạnh.

– Triệu chứng có thể trở nên nghiêm trọng ở những người bị bệnh gan hoặc hệ thống miễn dịch suy yếu, vi khuẩn có thể xâm nhập vào máu, gây nhiễm trùng toàn thân đe dọa tính mạng.

– Ngoài ra, các loài Vibrio có thể gây nhiễm trùng vết thương do vết loét hở tiếp xúc với nước chứa vi khuẩn. Ví dụ như các vết xước khi chế biến hải sản, mở hàu hoặc làm việc trên thuyền. Giống như bệnh đường tiêu hóa, những loại nhiễm trùng vết thương này nghiêm trọng nhất ở những người bị suy giảm hệ thống miễn dịch.

(ST)

2.3. Nhiễm vi khuẩn Listeriosis

– Listeriosis là một bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn Listeria monocytogenes gây ra. Vi khuẩn này có thể được tìm thấy trong hải sản sống, sữa chưa tiệt trùng, các loại rau như mầm sống và một số loại thực phẩm khác.

– Nguy cơ lớn nhất đối với bệnh listeriosis ở những trường hợp như: Có thai, trẻ sơ sinh (vi khuẩn có thể truyền qua nhau thai), những người trên 65 tuổi, người có hệ thống miễn dịch suy yếu.

– Các triệu chứng nhiễm vi khuẩn listeriosis thường bắt đầu với các vấn đề về đường tiêu hóa như co thắt dạ dày, tiêu chảy và nôn mửa. Ngoài ra, người bệnh có thể có các triệu chứng khác như sốt, đau đầu, đau cơ…

– Bệnh tiến triển có thể gây viêm màng não, viêm não. Viêm màng não và viêm não không phải là tác động điển hình của nhiễm vi khuẩn listeria và có xu hướng ảnh hưởng đến những người có hệ thống miễn dịch suy yếu.

– Ở phụ nữ mang thai nhiễm bệnh có thể dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng như: sẩy thai, thai chết lưu…

2.4. Nhiễm khuẩn salmonella

– Salmonella là một loại vi khuẩn có thể gây ra bệnh đường tiêu hóa. Salmonella có thể được tìm thấy ở một số nguồn thực phẩm khác nhau như: thịt, trứng, một số loại rau và cá sống bao gồm cá hồi và cá ngừ…

– Nhiễm khuẩn salmonella gây ra các triệu chứng tiêu chảy, sốt và co thắt dạ dày. Các triệu chứng thường bắt đầu trong vòng 1-3 ngày sau khi ăn thực phẩm bị nhiễm độc.

– Trẻ sơ sinh, những người có chức năng miễn dịch kém và những người trên 65 tuổi có nhiều nguy cơ mắc bệnh nặng cần nhập viện.

3. Cách chế biến và ăn sashimi an toàn

– Nếu bạn chọn ăn sashimi làm từ cá sống, hãy đảm bảo rằng cá đã được đông lạnh trước đó đến – 31°F (-35°C). Nhiệt độ đông lạnh này có thể diệt ký sinh trùng trong cá. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý, đông lạnh không diệt được tất cả các mầm bệnh. Đặc biệt là hầu hết các tủ đông gia đình thường không đảm bảo yêu cầu đông lạnh đúng nhiệt độ tiêu chuẩn.

– Khi mua cá sống hoặc ăn các món có cá sống, bạn cũng nên kiểm tra kỹ. Về mặt cảm quan, cá được đông lạnh và rã đông đúng cách trông tươi sáng, săn chắc và ẩm, có mùi thơm, không bị bầm tím, đổi màu hoặc mất mùi.

– Khi chế biến cá sống cần đảm bảo an toàn vệ sinh bề mặt và dụng cụ dùng để chế biến như: bàn bếp, dao, thớt, đồ đựng thực phẩm và để trong tủ lạnh đến khi ăn để ngăn ngừa nhiễm vi khuẩn.

(ST)

– Để hạn chế chất độc trong cá biển, người dân Nhật Bản có thói quen sử dụng wasabia (hay còn gọi là mù tạt thiên nhiên) khi ăn sushi, sashimi cũng như nhiều món cá sống khác. Ngoài việc gia tăng huơng vị, đây còn là một loại dược liệu có tính khử độc cao, bởi chúng có khả năng giúp diệt vi khuẩn có hại, các loại ký sinh trùng.

Đặc biệt, tinh chất wasabia thiên nhiên còn có tác dụng giúp gan khử các độc chất nguy hiểm tồn dư trong cá sống nhờ có chứa hoạt chất Isothiocyanates, giúp hoạt hóa yếu tố phiên mã Nrf2, từ đó gia tăng tổng hợp các phân tử protein thúc đẩy quá trình giải độc trong gan. Đồng thời, wasabia tăng cường khả năng kháng khuẩn và chống nhiễm độc từ bên ngoài, ức chế, làm giảm tích tụ các vi khuẩn, kim loại nặng.

– Ngoài ra, sashimi còn được ăn cùng với các loại nước chấm như xì dầu, tương, gừng và một số loại rau như tía tô, bạc hà và củ cải trắng thái chỉ hoặc tảo biển. Ngoài việc gia tăng hương vị, chúng còn hỗ trợ diệt khuẩn có hại và các loại ký sinh trùng thường có trong hải sản tươi sống.

BSCKI. Trần Thị Bích Thùy – Trưởng khoa Dinh dưỡng

Bùi Thảo


12.jpg

Sắt là một trong những chất vi lượng quan trọng có mặt trong hầu hết thành phần cơ thể như trong Hemoglobin (thành phần của hồng cầu), Myoglobin(cơ) và một số enzyme oxy hóa khử trong tế bào,… Sắt tham gia vào vận chuyển oxy và các quá trình chuyển hóa khác của cơ thể. Vì vậy khi thiếu sắt không chỉ dẫn đến tình trạng thiếu máu mà còn gây ra nhiều vấn đề khác cho sức khỏe, đặc biệt với người già, phụ nữ và trẻ em. Trong đó phải kể đến các bệnh liên quan đến sự suy giảm sức đề kháng, dễ mắc các bệnh hô hấp, tim mạch, ảnh hưởng đến sự tập trung và năng suất làm việc. Cụ thể các vấn đề về sức khỏe liên quan đến tình trạng thiếu sắt gồm có:

  • Tim đập nhanh, hồi hộp trống ngực

Đây là dấu hiệu dễ nhận thấy khi bị thiếu máu do thiếu sắt. Hemoglobin là thành phần chứa nhiều sắt, giữ vai trò vận chuyển oxy tới các mô khắp cơ thể. Vì thế, thiếu sắt sẽ gây ra thiếu hụt hemoglobin, sự vận chuyển oxy nuôi dưỡng cơ thể cũng bị suy giảm dẫn đến tình trạng mệt mỏi, chóng mặt, hoa mắt, suy giảm chức năng của hệ tim mạch và hệ hô hấp.

  • Rụng tóc, móng yếu

(Thiếu sắt gây rụng tóc, bong móng)

Do sắt tham gia vào thành phần của một số enzyme oxy hóa khử trong tế bào nên thiếu sắt sẽ dẫn đến sự giảm các enzyme này, hậu quả làm tế bào dễ bị tổn thương. Chính vì vậy, người bị thiếu máu thiếu sắt mạn tính thường kèm theo biểu hiện tổn thương da, biểu mô miệng họng, móng tay mỏng yếu, tóc rụng…

  • Giảm trí nhớ và hoạt động của não bộ

Não bộ là cơ quan cần cung cấp dinh dưỡng và oxy nhiều nhất cơ thể, điều này đảm bảo sự hoạt động tốt nhất của các tế bào thần kinh. Thực tế, người bệnh thiếu hụt sắt, nhất là trong thời gian dài thường dẫn đến suy giảm trí nhớ, hoạt động của não bộ, tư duy cũng bị ảnh hưởng. Đặc biệt, phụ nữ mang thai và trẻ em là hai đối tượng dễ bị tác động nhất khi không được cung cấp dinh dưỡng đầy đủ.

  • Các hoạt động của cơ thể bị trì trệ

Thiếu máu, thiếu oxy khiến tất cả các mô, tế bào và bộ phận của cơ thể không được nuôi dưỡng và duy trì bình thường. Mọi quá trình hoạt động của các bộ phận trong cơ thể ít nhiều cũng bị kém đi, thậm chí nếu tình trạng thiếu máu thiếu sắt kéo dài và nghiêm trọng có thể gây rối loạn các hoạt động chức năng trong cơ thể con người.

  • Suy giảm hệ miễn dịch và khả năng sinh sản

(Thiếu sắt gây suy giảm hệ miễn dịch)

Thiếu sắt thường xảy ra ở trẻ em thuộc các nước kém phát triển, là một trong những nguyên nhân gây thiếu máu, suy dinh dưỡng. Hệ miễn dịch của cơ thể người thiếu sắt cũng thường hoạt động kém hơn. Sự ảnh hưởng này liên quan đến vai trò của sắt trong quá trình sản sinh tế bào bạch cầu – tế bào miễn dịch chống lại sự tấn công của tác nhân gây bệnh. Khi hoạt động của tế bào bạch cầu bị ảnh hưởng thì khả năng miễn dịch cũng không đạt được mức tốt nhất.

Bên cạnh đó phụ nữ độ ở tuổi sinh sản bị thiếu sắt có tỉ lệ vô sinh cao hơn bình thường. Phụ nữ mang thai là đối tượng đặc biệt cần bổ sung sắt nhiều hơn, nếu không có thể bị thiếu máu thiếu sắt gây suy dinh dưỡng, thiếu sắt ở thai nhi và có thể dẫn tới sảy thai.

Có thể nói, tình trạng thiếu sắt gây ra nhiều bệnh lý khác nhau và để lại nhiều ảnh hưởng không tốt tới sức khỏe con người, mà nguyên nhân thiếu hụt sắt lại vô cùng đa dạng. Tuy nhiên, chúng ta có thể chủ động phòng ngừa từ chế độ dinh dưỡng, sinh hoạt thường ngày bằng cách bổ sung các thực phẩm có chứa nhiều sắt như thịt màu đỏ (thịt lợn, thịt bò, thịt dê….), cá, hải sản, trứng, các loại rau xanh đậm như rau muống, rau ngót….

BS.CKI Phạm Thu Hương, Trưởng khoa Huyết học lâm sàng

Phương Loan

 

 


14.jpg

Bệnh thiếu máu thiếu sắt là một trong những bệnh lý phổ biến trên thế giới và ở Việt Nam. Người bị thiếu máu thiếu sắt thường cảm thấy mệt mỏi và làm giảm năng suất làm việc, ảnh hưởng đến trí nhớ, rối loạn giấc ngủ, suy giảm sức đề kháng của cơ thể. Khi bị thiếu máu nặng và kéo dài thì hiện tượng thiếu oxy trong máu có thể làm tổn thương tim, não và các cơ quan khác của cơ thể. Vậy nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng thiếu máu thiếu sắt, các phương pháp bổ sung sắt cho cơ thể và cách phòng tránh thiếu máu thiếu sắt ra sao chúng ta cùng tìm hiểu bài viết dưới đây.

1. Bệnh thiếu máu thiếu sắt là gì?

Thiếu máu thiếu sắt là một dạng phổ biến của bệnh thiếu máu. Bệnh xảy ra khi cơ thể không đáp ứng đủlượng sắt để cung cấp tạo hồng cầu cần thiết cho cơ thể.

Thiếu máu thiếu sắt chiếm tỷ lệ cao nhất trong các loại thiếu máu dinh dưỡng và là bệnh phổ biến ở tất cả các nước, đặc biệt ở các nước đang phát triển. Thiếu máu thiếu sắt có thể gặp nhiều mức độ từ nhẹ đến nặng. Tuy nhiên nếu phát hiện được nguyên nhân thiếu sắt và điều trị bổ sung sắt đầy đủ thì bệnh có thể chữa khỏi được hoàn toàn.

2. Nguyên nhân nào khiến cơ thể thiếu sắt?

Tình trạng thiếu máu thiếu sắt do nhiều nguyên nhân khác nhau, phụ thuộc vào từng đối tượng, từng môi trường sống và được chia thành 3 nhóm nguyên nhân chính:

Không cung cấp đủ nhu cầu sắt
Do tăng nhu cầu sắt: trẻ em tuổi dậy thì, phụ nữ có thai, phụ nữ cho con bú…
Do chế độ ăn uống không đủ chất: người đang trong chế độ ăn kiêng, chế độ ăn uống của người nghiện rượu, người già…
Do cơ thể giảm hấp thu sắt: người mắc bệnh viêm dạ dày, viêm ruột; cắt đoạn dạ dày, ruột…
Mất sắt do mất máu mạn tính: do các bệnh lý loét dạ dày, tá tràng, ung thư đường tiêu hóa, u xơ cổ tử cung hoặc mất máu nhiều do kỳ kinh nguyệt ở phụ nữ…
Rối loạn chuyển hóa sắt bẩm sinh: xảy ra khi cơ thể không tổng hợp được transferrin vận chuyển sắt. Đây là một trong những nguyên nhân rất hiếm gặp.
3. Biểu hiện của bệnh thiếu máu thiếu sắt

(ST)

Thiếu máu thiếu sắt không phải là bệnh lý cấp tính nên biểu hiện của bệnh thường diễn biến một cách từ từ và qua 3 giai đoạn:

Giai đoạn 1: Người bệnh thường chưa có biểu hiện thiếu máu. Lúc này lượng máu dự trữ trong cơ thể giảm, người bệnh có 1 số biểu hiện của triệu chứng gây ra thiếu sắt như chóng mặt, hoa mắt, nhức đầu…
Giai đoạn 2: Người bệnh bắt đầu có biểu hiện thiếu sắt. Người bệnh thiếu sắt khi sắt dự trữ và sắt vận chuyển giảm nên người bệnh sẽ có biểu hiện mệt mỏi, giảm khả năng làm việc, giảm khả năng tập trung…
Giai đoạn 3: Người bệnh có biểu hiện cả thiếu máu cả thiếu sắt. Ở giai đoạn này, người bệnh sẽ cảm thấy nhức đầu, mệt mỏi, hoa mắt, da xanh, niêm mạc nhợt, lông, tóc, móng khô và dễ gãy. Ngoài ra, người bệnh xuất hiện đau đầu, chóng mặt, đau ngực, tim đập nhanh, nếu không điều trị kịp thời sẽ dẫn đến biến chứng nguy hiể
4. Biến chứng của thiếu máu thiếu sắt

Nếu không được điều trị kịp thời, thiếu máu thiếu sắt có thể gây ra nhiều vấn đề về sức khỏe như:

Vấn đề về tim: Thiếu máu do thiếu sắt có thể dẫn đến hiện tượng nhịp tim nhanh hoặc không đều. Tim của bạn phải bơm nhiều máu hơn để bù đắp lượng oxy thiếu hụt trong máu khi bạn bị thiếu máu. Về lâu dài nếu tình trạng thiếu máu nặng dần và không được điều trị có thể có biến chứng suy tim do thiếu máu.

Các vấn đề khi mang thai: Thiếu máu do thiếu sắt nghiêm trọng ở phụ nữ mang thai có liên quan đến sinh non và trẻ sơ sinh nhẹ cân. Thậm chí có nhiều trường hợp dẫn đến sảy thai, thai lưu.
Các vấn đề tăng trưởng: Ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, tình trạng thiếu sắt nghiêm trọng có thể dẫn đến thiếu máu cũng như làm chậm tăng trưởng và phát triển của trẻ. Ngoài ra, thiếu máu do thiếu sắt có liên quan đến việc trẻ tăng khả năng bị nhiễm trùng.
Các vấn đề về sinh dục: Thiếu máu thiếu sắt có thê gây rối loạn kinh nguyệt ở nữ giới, rối loạn khả năng tình dục và giảm khả năng cương dương ở nam giới…
5. Cách phòng ngừa thiếu máu thiếu sắt

(Bổ sung sắt qua các loại thực phẩm ăn hàng ngày)

Bạn có thể phòng tránh thiếu máu thiếu sắt bằng cách sử dụng các loại thực phẩm giàu chất sắt và vitamintrong các bữa ăn như:

Bổ sung sắt cho các đối tượng nguy cơ thiếu máu cao như phụ nữ có thai: bổ sung trong suốt thời gian mang thai và trong thời gian cho con bú.
Thực hiện chế độ ăn cân đối giàu sắt, vitamin như thịt màu đỏ (thịt bò, thịt trâu…), hải sản, thịt gia cầm, trứng, đậu, lạc, các loại rau xanh đậm như rau ngót, dền, muống,…
Không nên uống trà , cà phê , sữa đậu nành ngay sau ăn.
Phòng và chống các bệnh nhiễm ký sinh trùng, nhiễm trùng.
Đồng thời bạn cũng cần chọn thực phẩm chứa vitamin C để tăng cường hấp thu sắt bằng cách uống nước cam quýt hoặc ăn các thực phẩm giàu vitamin C khác cùng với các thực phẩm giàu chất sắt. Vitamin C trong trái cây họ cam quýt sẽ giúp cơ thể bạn hấp thụ chất sắt tốt hơn.
Nuôi dưỡng trẻ bằng sữa mẹ hoặc sữa bột có bổ sung sắt trong năm đầu đời, cho trẻ ăn dặm khi đủ 6 tháng tuổi với chế độ ăn đa dạng giàu dinh dưỡng…

Tình trạng thiếu máu thiếu sắt có thể gặp ở mọi lứa tuổi, mọi giới tính, mọi vùng miền. Để phòng bệnh thiếu máu thiếu sắt hiệu quả, người dân nên đi khám sức khỏe định kỳ và đến thăm khám tại các cơ sở y tế nếu có các biểu hiện của bệnh, không tự ý mua thuốc để sử dụng tại nhà.

BS.CKI Phạm Thu Hương, Trưởng khoa Huyết học lâm sàng

Phương Loan


1-1200x900.jpg

Khi biết bản thân mắc căn bệnh mang tên ung thư hầu hết người bệnh đều suy sụp và rất khó để có thể đối mặt. Đặc biệt đối với phụ nữ, ngực là biểu tượng về giới tính, chức năng và thẩm mỹ, khi đối mặt với ung thư vú, ngoài việc phải chiến đấu với bệnh tật còn là những trầm cảm, tự ti do mất đi một phần cơ thể sau phẫu thuật,…Những điều này thực sự khiến họ kiệt quệ về thể chất, cảm xúc và tinh thần. Thấu hiểu nỗi đau của những người bệnh không may mắn mắc phải căn bệnh ác tính này các y, bác sĩ Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp vừa qua đã ứng dụng thành công Vi phẫu thuật tái tạo vú tức thì bằng vạt “D.I.E.Pcho người bệnh ung thư sau cắt bỏ tuyến vú.

Người bệnh N.T.T.L (46 tuổi), Ngô Quyền, Hải Phòng vào Trung Tâm Ung Bướu & Y học Hạt nhân, Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp trong tình trạng hoang mang, lo lắng khi biết kết quả khối u vú bên phải, ung thư giai đoạn II đã được phẫu thuật cắt bỏ u tại một đơn vị khác kết quả không như mong đợi. Qua thăm khám và trao đổi với người bệnh, các bác sĩ được biết hy vọng của chị N.T.T.L ngoài việc điều trị bệnh lý ung thư còn mong muốn được phẫu thuật tạo hình, tái tạo lại khuôn ngực để giảm bớt tâm lý hụt hẫng, mất tự tin sau phẫu thuật bởi chị còn khá trẻ.

Đồng cảm với người bệnh, các bác sĩ Trung tâm Ung bướu & Y học Hạt nhân đã thăm khám, hội chẩn đa chuyên khoa nhanh chóng lên phương án điều trị cho người bệnh một cách tốt nhất. Các bác sĩ đã quyết định ứng dụng kĩ thuật vi phẫu tái tạo vú tức thì sau cắt bỏ tuyến vú do ung thư bằng vạt “D.I.E.P” (Deep Inferior Epigastric Perforator Flap) cho người bệnh. Đây là một trong những kĩ thuật tái tạo vú hàng đầu trên Thế giới, tại Việt Nam cho đến thời điểm hiện tại mới chỉ thực hiện được ở một số bệnh viện lớn ở tuyến Trung ương như: Bộ môn Phẫu thuật Tạo hình trường Đại học Y Hà Nội, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108,…

(Hình ảnh: Các y, bác sĩ Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp, tiến hành phẫu thuật cho người bệnh N.T.T.L)

Trong khoảng hơn 9 giờ phẫu thuật các y, bác sĩ đã tiến hành cắt bỏ hết phần vú bị ung thư kèm theo nạo vét hạch nách. Sau đó, lấy phần vạt da mỡ ở bụng dưới mang cuống mạch (động mạch thượng vị sâu dưới) đưa lên ngực, nối lại mạch máu bằng kỹ thuật Vi phẫu dưới kính hiển vi và tạo hình lại bầu vú ngay trong một lần phẫu thuật.

Phẫu thuật tiến hành khá thuận lợi, kết thúc thành công và an toàn. Sau phẫu thuật hiện tình trạng sức khỏe của người bệnh đã tạm ổn định và hơn hết là niềm vui, niềm hy vọng, sự hài lòng về kết quả phẫu thuật được thấy rõ trên gương mặt. Chị N.T.T.L đã gửi lời cảm ơn sâu sắc tới tập thể các y, bác sĩ bệnh viện đã luôn tận tâm, chăm sóc và điều trị cho mình.

 

(Hình ảnh: Vạt da mỡ bụng dưới của người bệnh)

(Hình ảnh: Bầu ngực sau khi được tạo hình)

(Niềm vui của chị N.T.T.L cùng gia đình và tập thể các y, bác sĩ khi phẫu thuật thành công)

Theo Bs. Bùi Văn Quang – Trung Tâm Ung Bướu & Y học Hạt nhân, trực tiếp phẫu thuật cho người bệnh cho biết “Tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp trước đây đã áp dụng nhiều phương pháp tái tạo vú cho người bệnh ung thư như: vạt da cơ lưng rộng, vạt da cơ thẳng bụng (TRAM), sử dụng túi độn ngực Silicon, hay các phẫu thuật bảo tồn cho ung thư vú giai đoạn sớm. Phẫu thuật tái tạo vú bằng vạt “D.I.E.P” Vi phẫu cho người bệnh ung thư sau cắt bỏ tuyến vú là chất liệu lý tưởng nhất hiện nay. Đây là phẫu thuật rất khó và phức tạp, thời gian phẫu thuật kéo dài, đòi hỏi máy móc trang thiết bị hiện đại, các bác sĩ có trình độ chuyên sâu về chuyên ngành Ung bướu và phẫu thuật tạo hình – Vi phẫu. Trong quá trình phẫu thuật các bác sĩ cần thao tác chính xác cũng như cần được chuẩn bị kỹ lưỡng, phối hợp nhịp nhàng xuyên suốt trong tất cả các khâu từ hội chẩn, chẩn đoán bệnh, tiền phẫu, phẫu thuật và hậu phẫu.

Khi áp dụng phương pháp này người bệnh chỉ phải trải qua một lần phẫu thuật cắt u và tạo hình lại ngực ngay khi đó, không phải chịu đựng một cuộc phẫu thuật kéo dài lần hai. Bên cạnh đó phẫu thuật này giải quyết được tâm lý không bị cảm giác thiếu tự tin, mặc cảm khi tỉnh dậy thấy thiếu hụt đi một phần cơ thể, nhất là với những phụ nữ trẻ. Đặc biệt hơn tạo hình vú bằng vạt da và mỡ thành bụng dưới có khối lượng lớn, mềm mại là chất liệu tự thân, màu sắc da phù hợp với nơi nhận, giúp che phủ được phần khuyết da, đồng thời không phải dùng đến vật liệu nhân tạo. Khi lấy vạt da ở đây, các cấu trúc thành bụng như cân, cơ thẳng bụng được bảo tồn tối đa, nên ảnh hưởng không đáng kể đến chức năng của thành bụng, do đó giảm tối đa biến chứng sau phẫu thuật. Sau phẫu thuật khi mạch máu nối Vi phẫu ổn định các vạt da mỡ này sẽ chịu được tia xạ, hoá chất như các tổ chức khác trong cơ thể. Đây còn là phẫu thuật ba trong một vừa loại bỏ được ung thư – tạo hình trả lại bầu vú – tạo thêm được vóc dáng vùng bụng thon gọn”.

Với mong muốn chung tay đẩy lùi “nỗi đau ung thư” của người bệnh ung thư nói chung và ung thư vú nói riêng, Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp đã và đang phấn đấu điều trị cho người bệnh bằng con tim, khối óc, đặt lợi ích và sức khỏe của người bệnh lên hàng đầu, luôn đồng cảm và thấu hiểu với cảm xúc của người bệnh. Bên cạnh đó, bệnh viện thực hiện đồng bộ các giải pháp đột phá về đầu tư cơ sở hạ tầng cũng như trang thiết bị tiến tiến hiện đại, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, triển khai hàng loạt kĩ thuật cao chuyên sâu hơn nữa mang lại chất lượng dịch vụ, khám chữa bệnh tốt nhất cho người dân.

Bs. Bùi Văn Quang
Trung tâm Ung Bướu & Y học Hạt nhân
Nguyễn Hà


HP.jpg

Vi khuẩn HP (một loại vi khuẩn hình xoắn ốc) là tác nhân thường gây ra một số bệnh về đường tiêu hóa như viêm loét dạ dày – tá tràng hoặc thậm chí có thể là ung thư dạ dày. Vi khuẩn HP thường được tìm thấy trong dạ dày của người bị nhiễm khuẩn. Song, nhiều người bị nhiễm loại vi khuẩn này không có triệu chứng hoặc không có bất thường về tình trạng sức khỏe hay có triệu chứng nhưng không rõ ràng.

(ST)

  1. Vi khuẩn HP là gì?

Vi khuẩn HP có tên gọi đầy đủ là Helicobacter pylori, là một loại xoắn khuẩn (hình xoắn ốc) gram âm, sống trong lớp nhày trên bề mặt niêm mạc dạ dày. Môi trường acid trong dạ dày là điều kiện thuận lợi để vi khuẩn HP tồn tại. Để sinh sống được tại đây, vi khuẩn HP sẽ tiết ra enzyme là Urease giúp trung hòa độ acid trong dạ dày.

(Hình ảnh: Vi khuẩn HP)

Vi khuẩn HP được tìm thấy ở trong dạ dày của con người vào năm 1982 bởi hai nhà bác học người Úc là Barry Marshall và Robin Warren.

Hiện tại co khoảng hơn một nửa dân số trên thế giới bị nhiễm loại vi khuẩn này. Tỷ lệ nhiễm khuẩn HP tăng cao ở các nước kém hoặc đang phát triển và tỷ lệ này giảm dần ở các nước phát triển; Việt Nam nằm trong khu vực các nước có tỷ lệ nhiễm vi khuẩn HP cao.

Vi khuẩn HP chính thức được công nhận là nguyên nhân gây ra viêm, loét dạ dày – hành tá tràng và ung thư dạ dày. Tuy nhiên, trên 80% những người bị nhiễm khuẩn HP trong dạ dày không có biểu hiện, triệu chứng.

  1. Dấu hiệu nào cho biết có thể bạn đang bị nhiễm vi khuẩn HP?

Dấu hiệu nhận biết ở người bệnh bị nhiễm vi khuẩn HP thường không rõ ràng, cụ thể. Vi khuẩn HP rất thầm lặng và chỉ đến khi chúng gây ra tổn thương cho niêm mạc dạ dày thì lúc bấy giờ người bệnh mới biết.

Thông thường, vi khuẩn HP có thể gây ra một số triệu chứng về dạ dày mà người bệnh cần phải chú ý, như: Có cảm giác đau hoặc rát tại vùng thượng vị; Có những cơn đau bụng âm ỉ; Buồn nôn hoặc nôn khan; Đầy bụng; Khó tiêu; Ợ chua; Sút cân không rõ nguyên nhân;…

  1. Vi khuẩn HP có thể gây ra những bệnh nào?

Trên thực tế lâm sàng cho thấy, vi khuẩn HP có thể gây ra một số bệnh về đường tiêu hóa như:

– Viêm cấp tính niêm mạc dạ dày;

– Viêm mạn tính niêm mạc dạ dày;

– Loét dạ dày -tá tràng;

– Ung thư dạ dày;

– U lympho B lớp niêm mạc dạ dày (MALT);

– Chứng khó tiêu chức năng (functional dyspepsia), …

  1. Vi khuẩn HP dạ dày lây qua đường nào?

Vi khuẩn HP có sức sống rất bền bỉ và chúng có khả năng lây nhiễm từ người mang vi khuẩn sang người không bị nhiễm. Thông thường, vi khuẩn HP có ba đường lây nhiễm chính:

+ Đường miệng – miệng: Đây chính là con đường lây truyền chủ yếu của vi khuẩn HP do người lành tiếp xúc trực tiếp với nước bọt hoặc dịch tiết dạ dày của người mang vi khuẩn (VD: Những thành viên trong gia đình dùng chung đũa, thìa, cốc hoặc bát ăn cơm,…).

+ Đường phân – miệng: Vi khuẩn HP được đào thải qua đường phân và là nguồn lây nhiễm ra cho cộng đồng nếu người bị nhiễm vi khuẩn không bảo đảm vệ sinh cá nhân (rửa tay bằng xà phòng trước và sau khi đi đại tiện,…). Ngoài ra, thói quen ăn một số thực phẩm sống cũng là nguyên nhân khiến một số người bị nhiễm loại vi khuẩn này.

+ Đường khác: Một số người bệnh có thể bị nhiễm vi khuẩn HP thông qua các dụng cụ y tế như: các thiết bị nội soi,… nếu các thiết bị này không được tiệt trùng – khử khuẩn theo đúng quy định, tiêu chuẩn y tế. Tuy nhiên, tỷ lệ bị nhiễm vi khuẩn HP qua đường này là rất thấp.

  1. Phương pháp chẩn đoán vi khuẩn HP gây viêm loét dạ dày như thế nào?

Hiện nay có một số phương pháp phổ biến, tiện lợi được áp dụng để phát hiện (chẩn đoán) vi khuẩn HP như:

+ Nội soi tìm vi khuẩn HP trong dạ dày

+ Kiểm tra vi khuẩn HP bằng hơi thở (Urea Breath Test)

  1. Một số lời khuyên từ bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa

Bạn không nên tự ý dùng các thuốc trên quảng cáo khi chưa có ý kiến tư vấn chuyên môn của bác sĩ chuyên khoa. Việc tự ý sử dụng các thuốc, đặc biệt là thuốc kháng sinh để điều trị bệnh dạ dày – tá tràng do vi khuẩn HP gây ra không đúng theo chỉ định và y lệnh của bác sĩ sẽ dẫn đến nguy cơ vi khuẩn HP kháng lại thuốc. Khi đó, việc tiêu diệt vi khuẩn HP trở nên khó khăn hơn rất nhiều.

(Sử dụng thuốc đúng theo y lệnh của bác sĩ là một cách giúp tiêu diệt vi khuẩn HP hiệu quả)

Vi khuẩn HP rất ưa chuộng môi trường acid cho nên thói quen hay sử dụng thực phẩm nhiều dầu mỡ hoặc uống nhiều rượu bia của một bộ phận người bệnh làm tăng môi trường acid trong dạ dày. Nếu trong quá trình điều trị, người bệnh vẫn giữ các thói quen sinh hoạt như cũ sẽ khiến cho kết quả điều trị không được như mong đợi.

Việc chẩn đoán và điều trị nhiễm khuẩn HP phải được thực hiện theo đúng phác đồ chuyên môn y tế. Đồng thời, người bệnh nên được bác sĩ chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời sẽ giúp kết quả điều trị đạt hiệu quả cao, cũng như không để lại những biến chứng nguy hiểm. Khi gặp các dấu hiệu nghi ngờ bị mắc bệnh dạ dày, bạn cần đến ngay các cơ sở y tế để được bác sĩ chuyên khoa thăm khám, chẩn đoán và tư vấn phác đồ điều trị phù hợp với tình trạng bệnh.

TS.BS Đặng Chiều Dương – Trưởng khoa Nội Tiêu hóa

Đỗ Thành


m2.jpg

Đôi mắt của chúng ta là một trong những “tài sản” quý giá, song cũng là một bộ phận vô cùng nhạy cảm nhưng lại thường bị “bỏ quên”. Bên cạnh đó, những thói quen trong sinh hoạt thường ngày lại là nguyên nhân trực tiếp gây ảnh hưởng tới mắt. Vậy bạn có thật sự hiểu rõ về những thói quen tưởng chừng vô hại đó? Chúng ta cùng tìm hiểu bài viết bên dưới nhé!

  1. Thiếu ngủ

(Thiếu ngủ cũng là nguyên nhân khiến mắt trở nên yếu đi)

Hiện nay, rất nhiều người có thói quen thức khuya để làm việc, chơi game, xem phim,… không chỉ dẫn đến tình trạng thiếu ngủ mà còn gây hại cho mắt. Bởi cũng giống như cơ thể, đôi mắt cũng cần có thời gian nghỉ ngơi sau một ngày làm việc căng thẳng.

Khi chúng ta ngủ không đủ giấc, mắt sẽ bị tổn thương và khi đó mắt sẽ không tạo ra tuần hoàn chất lỏng cần thiết, dẫn đến bọng mắt, sưng mắt, giảm tầm nhìn tập trung cũng như gây co giật mắt…

  1. Dụi mắt thường xuyên

Đối với nhiều người đây có thể là hành động vô cùng nhỏ nhặt, không đáng gây hại nhưng thực chất khi dụi mắt chúng ta lại vô tình làm tổn thương nặng cho mắt, bởi dụi mắt mạnh tay sẽ gây nguy cơ vỡ các mạch máu, đỏ mắt. Thậm chí, điều này có thể khiến giác mạc bị trầy xước hoặc biến dạng giác mạc nếu bên trong mắt có “vật thể” lạ.

Ngoài ra, việc tay tiếp xúc với mắt có thể làm lây truyền vi khuẩn tới lông mi và mí mắt, làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn mắt. Do vậy, thay vì dụi mắt trực tiếp, hãy cố gắng làm dịu mắt từ vị trí xung quanh bằng cách xoa ngón tay lên viền xung quanh mắt để tránh nguy cơ nhiễm khuẩn mà vẫn tạo cảm giác dễ chịu.

  1. Sử dụng thiết bị điện tử vào ban đêm

Đây cũng là một trong những nguyên nhân phổ biến “góp phần” khiến đôi mắt gặp thương tổn nhiều nhất. Bởi trong điều kiện thiếu ánh sáng, cùng với ánh sáng xanh từ các thiết bị điện tử như điện thoại, màn hình máy tính, máy chơi game… sẽ gây hại tới tế bào cảm thụ ở võng mạc khiến thị lực của mắt giảm sút. Bên cạnh đó, việc sử dụng các thiết bị điện tử vào ban đêm cũng khiến bạn khó ngủ, suy giảm sức khỏe.

  1. Lạm dụng thuốc nhỏ mắt

(Việc lạm dụng thuốc nhỏ mắt sẽ gây tổn thương tới mắt)

Bất kể là loại thuốc nào khi sử dụng cũng cần có sự hướng dẫn và theo đơn của bác sĩ. Việc lạm dụng thuốc nhỏ mắt thường xuyên sẽ gây giãn các mạch máu ở mắt và khi tác dụng của thuốc giảm đi, bạn sẽ lại tiếp tục phụ thuộc vào thuốc.

  1. Sử dụng rượu, bia quá nhiều

Việc sử dụng nhiều đồ uống có chứa chất kích thích như rượu, bia sẽ gây ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe, đồng thời gây kích ứng cho mắt như giảm thị lực, khô mắt, đỏ mắt do xuất huyết kết mạc.

  1. Không sử dụng các biện pháp bảo vệ

Theo nghiên cứu, hơn 40% thương tích mắt xảy ra trong khi làm việc như sửa chữa, vệ sinh nhà cửa…, do các mảnh vỡ hoặc các vật sắc nhọn như kim loại hay gỗ bắn vào mắt gây chấn thương nghiêm trọng. Vì vậy, khi làm những công việc có nguy cơ cao gây chấn thương mắt như cắt cỏ hay sửa chữa vòi nước bị rò rỉ,…cần đeo kính bảo vệ để ngăn chặn những mảnh vụn này xâm nhập mắt.

Bên cạnh đó, chúng ta thường không có thói quen “khám sức khỏe định kỳ” cho đôi mắt do tâm lý chủ quan. Trên thực tế, việc kiểm tra mắt định kỳ có thể giúp phát hiện các vấn đề về sức khỏe như tiểu đường, tăng nhãn áp và huyết áp cao, tất cả đều có thể dẫn đến các vấn đề nghiêm trọng về mắt và thậm chí mù lòa nếu không được kiểm soát. Chính vì vậy, việc kiểm soát được các thói quen gây hại cho mắt cũng như chăm sóc “sức khỏe định kỳ” cho mắt là việc vô cùng cần thiết và góp phần bảo vệ đôi mắt tốt hơn.

Với đội ngũ y bác sĩ giỏi chuyên môn, giàu kinh nghiệm, tận tâm cùng trang thiết bị hiện đại, Khoa Mắt – Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp luôn sẵn sàng giải đáp mọi thắc mắc và tư vấn cho người dân các bệnh lý liên quan về mắt.

Th.S. BS Nguyễn Thị Thanh Thu, Trưởng Khoa Mắt

Phương Loan


dtd-1.png

Đái tháo đường (ĐTĐ) là bệnh rối loạn chuyển hóa được đặc trưng bởi tình trạng tăng đường máu. Phần lớn những người mắc bệnh ĐTĐ chỉ biết đến chỉ số đường huyết mà quên lưu tâm đến chỉ số HbA1c – Chỉ số quan trọng trong chẩn đoán và đánh giá điều trị bệnh ĐTĐ.

(ST)

  1. Xét nghiệm HbA1c là gì?

HbA1c là một loại hemoglobin đặc biệt kết hợp giữa hemoglobin và gluocose. Nó đại diện cho tình trạng gắn kết của glucose trên Hb hồng cầu. HbA1c tồn tại trong hồng cầu có chức năng vận chuyển oxy và glucose đi nuôi cơ thể. Sự hình thành của HbA1c xảy ra chậm 0,05% trong ngày, tồn tại suốt trong đời sống của hồng cầu ước tính 90-120 ngày, nếu có thay đổi sớm nhất thì cũng trong vòng 1 tháng.

(ST)

           Người bệnh đi khám thường chỉ để ý đến đường máu lúc đói xét nghiệm tại một thời điểm. HbA1c phản ánh bức tranh lớn hơn, toàn diện hơn về tỷ lệ % trung bình đường huyết trong 3 tháng vừa qua. Vì vậy, chỉ số HbA1C phản ánh tình trạng kiểm soát đường máu trong 3 tháng của người bệnh từ đó giúp bác sĩ có kế hoạch hướng dẫn và điều trị.

  1. Những trường hợp được chỉ định thực hiện xét nghiệm HbA1c

Thực hiện xét nghiệm HbA1c để xác định, chẩn đoán tiền ĐTĐ hay mắc bệnh ĐTĐ với những người có yếu tố nguy cơ cao sau:

  • Tuổi ≥ 45 tuổi
  • Tiền sử gia đình có người bị ĐTĐ (bố, mẹ đẻ)
  • Phụ nữ sinh con to ≥ 4 kg
  • Thừa cân, béo phì, mắc rối loạn chuyển hóa và chỉ số BMI vượt mức 23
  • Biểu hiện lâm sàng như: ăn nhiều, uống nhiều, tiểu nhiều, sút cân
  • Xét nghiệm đường máu đói bình thường nhưng có đường niệu

Xét nghiệm HbA1c còn được chỉ định thực hiện theo dõi điều trị với những người bệnh đã được chẩn đoán xác định ĐTĐ: đánh giá mức độ kiểm soát đường máu trong 3 tháng cho người bệnh từ đó đưa ra hướng điều trị cá thể hóa người bệnh.

(Người bệnh được thăm khám và chỉ định xét nghiệm tại khoa Thận- Nội tiết, Bệnh viện Hữu Nghị Việt Tiệp)

  1. Chỉ số HbA1c trong chẩn đoán và điều trị Đái tháo đường như thế nào?

Theo hiệp hội Đái tháo đường Mỹ (ADA), chỉ số HbA1c (thực hiện bằng phương pháp sắc ký lỏng cao áp) được chia thành các khoảng như sau:

  • Dưới 5,7%: bình thường
  • Từ 5,7%- 6,4%: Tiền Đái tháo đường
  • Từ 6,5% trở lên: Đái tháo đường

Cá thể hóa từng trường hợp người bệnh, mỗi người bệnh sẽ có mục tiêu HbA1c khác nhau:

(Nguồn: ADA 2021)

  • Mục tiêu HbA1c cho người trưởng thành không mang thai là <7% mà không bị hạ đường huyết đáng kể là phù hợp.
  • Trên cơ sở đánh giá của bác sĩ điều trị và người bệnh như: trẻ tuổi, kỳ vọng sống dài, mới phát hiện ĐTĐ, không có hoặc ít biến chứng có thể hạ HbA1c thấp hơn 7% có thể chấp nhận được, thậm chí có lợi.
  • Mục tiêu HbA1c ít nghiêm ngặt hơn (<8%) cho những người bệnh cao tuổi, nhiều bệnh nền, kỳ vọng sống ngắn.

Như vậy chỉ số HbA1c là một xét nghiệm quan trọng trong chẩn đoán và điều trị ĐTĐ mà bác sĩ và người bệnh rất cần quan tâm. Hy vọng bài viết đã mang đến cho bạn và người thân những thông tin bổ ích.

Ths.BS Nguyễn Thị Thùy Ngân,Trưởng khoa Thận – Nội tiết

Nguyễn Hà


st2-1200x762.jpg

Khi động mạch vành bị hẹp, tắc do mảng xơ vữa hay cục máu đông sẽ làm giảm một phần hoặc mất hoàn toàn dòng máu đến nuôi dưỡng cơ tim. Phương pháp nong và đặt khung giá đỡ (stent) động mạch vành là bước đột phá trong tim mạch can thiệp giúp phục hồi khả năng tưới máu đến vùng cơ tim bị thiếu máu cục bộ. Người bệnh sau khi được can thiệp động mạch vành sẽ giảm các triệu chứng đau thắt ngực, khó thở, mệt mỏi, giảm nguy cơ tử vong và cải thiện chất lượng sống. Tuy nhiên để đạt được hiệu quả điều trị tốt nhất sau khi đặt stent động mạch vành người bệnh cần tuân thủ những lưu ý sau:

(ST)

  1. Uống thuốc đầy đủ và tái khám theo chỉ định của bác sĩ

Người bệnh thường cho rằng đặt stent sẽ giúp khỏi vĩnh viễn bệnh động mạch vành, đây là quan niệm sai lầm vì can thiệp chỉ giải quyết vị trí tắc nghẽn của động mạch vành, chứ không điều trị bệnh nền là xơ vữa động mạch đã có từ trước. Hiện tượng tắc nghẽn có thể tiếp tục xảy ra ở những vị trí khác trên động mạch vành hoặc ngay tại vị trí đã đặt stent. Nếu người bệnh không dùng thuốc theo đúng chỉ định của bác sĩ, bệnh có thể tái phát sớm chỉ 6 – 12 tháng sau đặt stent.

Nguy hiểm hơn khi bị tái hẹp hoặc tắc stent gây nhồi máu cơ tim cấp, người bệnh buộc phải thực hiện can thiệp động mạch vành lần 2 với kỹ thuật phức tạp và chi phí tốn kém hơn như đặt stent mới trong lòng stent cũ, hoặc có thể phải phẫu thuật bắc cầu nối chủ – vành, thời gian hồi phục sẽ lâu hơn, biến chứng do bệnh nhiều hơn và nguy cơ tổn thương cơ tim vĩnh viễn cao hơn. Vì vậy người bệnh nên uống thuốc đầy đủ, đúng giờ theo đơn của bác sĩ, không được tự ý bỏ hoặc đổi thuốc nếu không có ý kiến của bác sĩ chuyên khoa tim mạch, đồng thời cần tái khám định kỳ theo đúng lịch hẹn.

(ST)

  1. Vận động tùy theo tình trạng sức khỏe

Người bệnh nên tham khảo ý kiến bác sĩ khi quyết định tập luyện thể dục trở lại, nên giảm cân nếu có thừa cân hoặc béo phì. Tùy theo tình trạng sức khỏe, người bệnh có thể đi bộ, đạp xe ít nhất 30 phút mỗi ngày, nhưng không nên gắng sức quá mức trong 6 tháng đầu sau khi đặt stent. Các hoạt động phải đảm bảo 3 giai đoạn: khởi động từ từ với cường độ tăng dần, duy trì nhịp tim ở mức tối ưu và giảm dần cường độ. Việc này sẽ giảm nguy cơ rối loạn nhịp tim và tăng sức bền cho hệ tim mạch. Người bệnh nên liên hệ ngay với bác sĩ, khi xuất hiện các triệu chứng như đau, nặng ngực; khó thở, nghẹt thở, hụt hơi vã mồ hôi lạnh.

(ST)

  1. Tuân thủ chế độ dinh dưỡng hợp lí

  – Người bệnh nên ăn các thực phẩm:

+ Thực phẩm chống oxy hóa, giảm viêm như: Trái cây có nhiều màu sắc; Các loại rau xanh như súp lơ, cải bó xôi, rau bina, cải xoăn,…Ngũ cốc nguyên hạt, gạo lứt, bột yến mạch; Dầu mè, oliu, dầu đậu nành; Cá hồi, cá trích, cá ngừ giàu Omega-3 có khả năng chống viêm cao.

+ Thực phẩm giúp tăng cường lưu thông máu như: gừng, tỏi, hành tây và các loại trái cây như nho, việt quất, dâu tây đều chứa nhiều salicylate – chất ngăn ngừa hình thành cục máu đông và thúc đẩy quá trình lưu thông máu.

+ Thực phẩm giảm cholesterol là những thực phẩm chứa nhiều chất xơ hòa tan, giúp giảm hấp thụ cholesterol tại ruột và thúc đẩy quá trình đào thải cholesterol ra khỏi máu như: ngũ cốc nguyên hạt, bánh mì đen; Các loại rau xanh như rau mồng tơi, rau đay; Các loại họ đậu như đậu đen, đậu hà lan, đậu đỏ; Các loại trái cây như lê, ổi, cam, đu đủ,…Đặc biệt, người bệnh mạch vành nên ưu tiên các món hấp, luộc.

(ST)

– Những thực phẩm hạn chế và không nên dùng:

+ Nên hạn chế các món chiên, xào, rán.

+ Hạn chế dùng muối, bột canh trong chế độ ăn uống mỗi ngày.

+ Không nên ăn các thực phẩm muối, đồ hộp, mỡ, phủ tạng động vật,…

+ Không nên dùng các chất kích thích tốt nhất nên bỏ thuốc lá, rượu, bia,…

Bệnh động mạch vành có nguy hiểm không còn tùy thuộc vào cách mà bạn “ứng phó” với nó. Ngoài việc tuân thủ những lưu ý kể trên, trong mọi trường hợp bạn hãy chủ động theo dõi và tìm gặp ngay chuyên gia tim mạch khi có những dấu hiệu bất thường nhằm xử trí kịp thời, tránh nguy cơ bệnh mạch vành diễn tiến xấu hơn.

Ths.BSCKII Nguyễn Anh Dũng, Phó Trưởng Khoa Tim Mạch

Nguyễn Hà


Picture1-1200x899.png

Vừa qua, Khoa Nội 2, Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp tổ chức sinh hoạt Câu lạc bộ người bệnh bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và hen phế quản với mục tiêu trang bị kiến thức cơ bản về Hen, COPD cho người bệnh.

(Buổi sinh hoạt có sự tham gia của các thành viên trong CLB Hen, COPD)

Trong buổi sinh hoạt, người bệnh COPD được trang bị những kiến thức bổ ích như: Nâng cao hiểu biết về: Bệnh Hen và cách phòng tránh; Hướng dẫn sử dụng các dụng cụ xịt hít khí dung trong điều trị Hen, COPD; Dinh dưỡng ở người bệnh COPD; Hiệu quả thở máy không xâm nhập ở người bệnh Hen, COPD đợt cấp và mạn tính. Sau khi lắng nghe các chuyên đề, câu lạc bộ đã cùng trao đổi, thảo luận sôi nổi và được được các bác sĩ tư vấn nhiệt tình.

Bên cạnh chuyên môn chính, đối với các y, bác sĩ của khoa Nội 2, hoạt động truyền thông và giáo dục sức khỏe cho người bệnh Hen, COPD đóng vai trò rất quan trọng qua đó giúp người bệnh hiểu, thực hiện và duy trì các phương pháp điều trị cũng như chế độ dinh dưỡng phù hợp nhằm tăng cường sức khỏe, nâng cao chất lượng sống. Ngoài ra, Câu lạc bộ còn là nơi kết nối gần hơn nữa bác sĩ với người bệnh, người bệnh với người bệnh để những người mắc các bệnh này được chăm sóc tốt hơn. Đặc biệt trong mỗi đợt sinh hoạt định kỳ, các y, bác sĩ sẽ cung cấp thêm kiến thức, thông tin hữu ích để người bệnh và người nhà có thêm kinh nghiệm trong cách kiểm soát cơn Hen và COPD đợt cấp, từ đó hạn chế số lần nhập viện, phục hồi chức năng hô hấp.

Bùi Thảo


image_2022-10-20_042427018.png

Làn da là bộ phận chiếm diện tích lớn nhất, có nhiệm vụ bảo vệ cơ thể tránh khỏi những tác động tiêu cực từ môi trường bên ngoài. Có hai yếu tố quy định độ ẩm cho da là lượng nước và lượng dầu tự nhiên. Khi hai yếu tố này cân bằng, da sẽ được giữ ẩm, trở nên mịn màng, giàu sức sống.

Tuy nhiên, khi thời tiết thay đổi, trở nên lạnh và khô hơn, hàm lượng dầu và nước trên da đều bị suy giảm đáng kể. Môi trường với nhiệt độ, độ ẩm thấp, cộng với gió lạnh đều khiến da bị mất nước nhanh. Ngoài ra, một số người còn có thói quen dùng lò sưởi, khiến tình trạng này càng trở nên nghiêm trọng.

(Da khô nứt nẻ là tình trạng thường gặp vào mùa lạnh)

Tất cả những yếu tố này kết hợp với việc bạn không biết cách chăm sóc da vào mùa lạnh hợp lý sẽ khiến da bị khô sần, bong tróc. Thậm chí, nếu kéo dài còn đẩy nhanh tốc độ lão hóa, hình thành nhiều nếp nhăn, da xỉn màu, thâm sạm,…Việc chăm sóc da như thế nào để giảm hiện tượng trên được nhiều người quan tâm. Sau đây là một số hướng dẫn chăm sóc da vào mùa lạnh:

  1. Uống nhiều nướcđể chăm sóc da

Chúng ta không cảm thấy quá khát vào mùa đông, nhưng ngay cả khi đó, điều quan trọng là bạn vẫn phải uống ít nhất 6-7 cốc nước mỗi ngày. Tiêu thụ đủ lượng nước sẽ giúp da chúng ta ngậm nước. Đây là cách dễ nhất để ngăn da trở nên xỉn màu và khô ráp.

  1. Duy trì mộtchế độ ăn uống lành mạnh và một lối sống tốt

Kết hợp một chế độ ăn uống lành mạnh giàu axit béo omega-3 như cá và các loại hải sản khác, quả óc chó, đậu nành, hạt chia,… Ngủ ít nhất 7-8 giờ và thức dậy vào sáng sớm là cách đơn giản nhất để có được làn da sáng tự nhiên mà không cần nhiều cố gắng.

  1. Che chắn khi đi ra ngoài

Để bảo vệ da, điều cần thiết là phải che chắn cẩn thận từ đầu đến chân để ngăn da tiếp xúc với các tia nắng mặt trời có hại. Gió lạnh và thời tiết lạnh giá cũng làm mất độ ẩm trên da của bạn.

  1. Tắm bằng nước ấm

Nghe có vẻ hơi khó khăn nhưng bất cứ khi nào bạn tắm, hãy tránh sử dụng nước quá nóng. Nó làm khô dầu tự nhiên từ lớp biểu bì của da, mở rộng các lỗ chân lông trên da, khiến da dễ dàng tích tụ bụi bẩn và các tạp chất khác. Đồng thời, nước nóng có thể gây ngứa, mẩn đỏ và bỏng.  Bạn có thể thêm một vài thìa dầu dừa vào nước ấm, nó sẽ hoạt động giống như một lớp bảo vệ bề mặt bên ngoài của da, giúp da không bị khô. Các chuyên gia khuyên bạn nên nhẹ nhàng thoa kem dưỡng ẩm lên toàn thân sau khi tắm, khi da còn ẩm. Cách này giúp khóa ẩm lâu hơn so với việc thoa lên da khô. Kem dưỡng ẩm có chứa ceramides và axit hyaluronic sẽ giữ ẩm, ngăn ngừa các phản ứng viêm trong cơ thể. Ngoài ra, hãy nhớ thoa kem dưỡng ẩm ít nhất 2 lần một ngày, một lần vào buổi sáng và trước khi đi ngủ.

  1. Thoa kem chống nắng cho quá trình chăm sóc da mùa đông

– Sử dụng kem chống nắng là điều bắt buộc trong quá trình chăm sóc da của bạn ở bất kỳ mùa nào. Kem chống nắng hoạt động giống như một lá chắn chống lại bức xạ tia cực tím có hại của ánh nắng mặt trời. Bạn nên thoa kem mỗi khi bước ra nắng để tránh da tiếp xúc trực tiếp với nhiệt.

Nhìn chung, nếu bạn không muốn mất nhiều giờ và số tiền lớn để thực hiện theo bất kỳ phương pháp phức tạp nào, bạn có thể làm theo các mẹo được giới chuyên gia khuyến nghị để thấy những thay đổi rõ ràng trên da.

Làn da của bạn sẽ trở nên rạng rỡ và đẹp tự nhiên khi được chăm sóc đúng cách. Nhưng trong trường hợp bạn gặp các vấn đề về da mà không thể điều trị tại nhà, hãy đến gặp bác sĩ da liễu được chứng nhận, người có thể giúp bạn hiểu vấn đề và hướng dẫn bạn cách điều trị phù hợp.

Ths. BSCKII Nguyễn Xuân Hương – Trưởng khoa Da liễu

Bùi Thảo



BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT TIỆP

CƠ SỞ 1: Số 1 đường Nhà Thương

P. Cát Dài – Q. Lê Chân – Tp. Hải Phòng

CƠ SỞ 2: An Đồng

H. An Dương – Tp. Hải Phòng




KẾT NỐI

Fanpage Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp


Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp Cơ Sở 2




BẢN ĐỒ
medicare-logo-white

Sed magna nulla, pulvinar vel ante vel, fringilla vulputate nibh. In placerat facilisis tincidunt. Integer quis erat dictum, placerat massa non, bibendum ante. Duis aliquet tellus magna, quis egestas enim vulputate sed. Phasellus in dui malesuada, lacinia urna sed.

Bản quyền website thuộc về Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp 2022.